DOWNLOAD

------------------
-------------------

Trạng thái: Home» Tin tức Công Giáo » Ủy ban Đoàn kết Công giáo bao giờ đến hồi kết?


Trong cuộc nói chuyện với nhóm Doanh nhân Trí thức Công giáo tại Đan viện Châu Sơn ngày 20/3/2011, Đức Tổng Giám mục Ngô Quang Kiệt có nhắc tới Ủy ban Đoàn kết Công giáo Việt 

Nam và xếp nhóm này vào loại “Công giáo nhãn hiệu”.
Hiện nay, có hàng trăm linh mục đang tích cực tham gia Ủy ban Đoàn kết Công giáo trải rộng trên phạm vi cả nước. Phải chăng những linh mục đang tham gia cái gọi là Ủy ban Đoàn kêt Công giáo yêu nước cũng là những “Linh mục Công giáo nhãn hiệu”?
Chúng tôi đăng lại đây bài viết hết sức công phu “Ủy ban Đoàn kết Công giáo bao giờ tới hồi kết?” của GS. Hà Thành, để độc giả có một cái nhìn đầy đủ hơn cái gọi là Ủy ban Đoàn kết Công giáo Việt Nam, một tổ chức ngoại vi của đảng cộng sản, để cùng nhau lên tiếng nói cho tương lai Giáo hội Việt Nam không còn là tên gọi hay nhãn hiệu, nhưng đích thực là Giáo hội Chúa Kitô ở Việt Nam.
Gần đây, có nhiều ý kiến nói đến việc nên chấm dứt sự tồn tại của ủy ban đoàn kết công giáo Việt Nam (UBĐK). Một câu hỏi được đặt ra: Vì sao UBĐK vẫn tồn tại được đến hôm nay? Có phải do hàng giáo phẩm Việt Nam không có thái độ dứt khoát với tổ chức này hay tổ chức này còn được những bàn tay nào phù phép che chở?
I. Thái độ của Giáo hội Công giáo với UBĐK
Ngay từ ngày đầu tiên khi Hội nghị của tổ chức này được họp tại Hà Nội, ngày 11-3-1955, Đức Khâm sứ Dooley đã gửi văn thư số 1024/89 cho các giáo phận ở miền Bắc nói rõ: “Theo nhiều nguồn tin đáng tin cậy, tôi có bổn phận cho các Đấng bậc trong Giáo hội hay rằng, những hoạt động này đều ở bên ngoài hệ thống của Giáo hội, không được phép của Đấng bản quyền ‘Các linh mục có trách nhiệm trong các hoạt động ấy ở trong hoàn cảnh không hợp lệ”. Và ít ngày sau khi hội nghị này bế mạc để ra mắt ủy ban liên lạc Công giáo, Đức Hồng y P. Fumasoni Biondi- Tổng trưởng Bộ Truyền giáo lại gửi tiếp văn thư số 1810/55 ngày 7-5-1955 cho các Giám mục ở Việt Nam. Văn thư viết: “Thánh bộ Truyền giáo không thể giấu anh em nỗi lo buồn tận đáy lòng khi nghe tin mấy linh mục nhầm vì lòng ngay hay nhầm vì theo những học thuyết mới và sai lạc. Họ đã họp nhau một cách “vượt quyền các Giám mục” làm thành một hội nghị gọi là hội nghị hòa bình. Như thế họ đã tự đặt mình làm những người cổ động và bảo vệ một phong trào đầy nguy hiểm cho sự hợp nhất của giáo hội ở Đông dương. Thánh bộ nhắc nhở: Vậy nếu thiếu tinh thần kỷ luật, hay thiếu sót trong sự vâng lời các giám mục thì mối dây hợp nhất sẽ giãn ra và đứt”( Bước đầu tìm hiểu về mối quan hệ giữa nhà nước và Giáo hội, GS Đỗ Quang Hưng chủ biên, Nxb Tôn giáo, H. 2003, tr.160).
Từ trái qua phải: linh mục Thiện Cẩm, OP, linh mục Nguyễn Công Danh và Nguyễn Minh Triết
Trước ngày khai mạc hội nghị của ủy ban liên lạc công giáo, trên tờ báo “Sáng danh Chúa” – một tờ báo cổ vũ cho khuynh hướng của ủy ban có đăng một bức điện văn ủng hộ hội nghị của Giám mục Hoàng Văn Đoàn (Bắc Ninh), nhưng sau khi có văn thư của Đức Khâm sứ Dooley, ngày 10-3-1955, trước cửa Nhà thờ lớn Hà Nội có dán một tờ giấy ghi “Lời thanh minh của Đức GM Hoàng Văn Đoàn” . Nội dung như sau:
“Nhân dịp Hội nghị công giáo toàn quốc, mấy tờ báo thủ đô có đăng mục gọi là ‘Bức điện văn của Đức GM Hoàng Văn Đoàn’ ở tòa GM Bắc Ninh gửi hội nghị kính Chúa, yêu Tổ quốc, yêu hòa bình trong toàn quốc (từ 8 đến 10-3-1955). Bởi vậy, nhiều người cho là tôi ưng thuận ‘Hội nghị công giáo kính Chúa, yêu tổ quốc, yêu hòa bình’ cho nên tôi xin thanh minh rằng:
1-Tôi tán thành việc đưa lại hòa bình thống nhất cho nước Việt Nam.
2- Song tôi không có quyền ưng thuận” Hội nghị công giáo kính Chúa, yêu tổ quốc, yêu hòa bình toàn quốc” vì quá quyền hạn, tôi chỉ là GM trong một địa phận. Vậy hội nghị này không hợp thức. Tôi xin kết luận:
Máu đào thắm nhuộm giang san
Tin trung một dạ sắt son chẳng sờn
Hồn tôi dâng tiến Chúa Trời
Xác tôi, tôi hiến quê tôi đời này”.
Tờ truyền đơn này có lẽ phản ánh đúng thái độ của vị Giám mục trẻ trung của giáo phận Bắc Ninh đối với Hội nghị trên.
Suốt 28 năm tồn tại, Ủy ban liên lạc đã để lại quá nhiều tai tiếng mà chính các vị ở trong ủy ban cũng không muốn nhắc đến cái tên của nó. Và chắc chắn các chủ chăn trong giáo hội không thể nào ủng hộ tổ chức này. Tuy nhiên, cũng không phải ai cũng công khai dám tuyên bố như linh mục Phạm Hân Quynh (Hải Phòng) vào năm 1960 rằng: “Tôi còn sống ngày nào, tôi còn chống cái ủy ban ‘xuyên tạc công giáo’ này”. Cũng vì lời tuyên bố đầy quả cảm trên mà linh mục Quynh đã phải 30 năm cải tạo (Nguyễn Thế Thoại: Công giáo trên quê hương VN, Lưu hành nội bộ năm 2001, tập 2, tr.417).
Về phía Tòa thánh, kinh nghiệm của nhiều nước xã hội chủ nghĩa khi đó như Trung Quốc, Ba Lan đã cho thấy rõ thực chất những tổ chức như Ủy ban liên lạc công giáo ở Việt Nam. Bởi vậy, ngày 18-4-1982, tờ L’Observater Romano- cơ quan ngôn luận bán chính thức của Tòa thánh có đăng một bài bình luận nói rõ về các tổ chức này: “Các hội đoàn này trong thực tế cũng gây ra hoặc khoét sâu chia rẽ trong cơ thể sống của giáo hội. Họ muốn chống các giám mục và rõ ràng giản đơn là họ muốn xen vào tất cả các hoạt động của giáo hội. Họ rao giảng thư hòa bình không phải nền hòa bình của Phúc âm. Thường chỉ các hội đoàn này mới có quyền làm báo “công giáo” và kiểm duyệt báo. Người ta thấy những tờ báo của các hội đoàn này không đăng hoặc kiểm duyệt bài viết của các giám mục, các văn kiện của Giáo hoàng và những tin tức sinh hoạt của giáo hội hoàn vũ. Các hội đoàn này muốn thay giáo hội và được tham khảo ý kiến, được đối xử như là đại diện của giáo hội. Những người cầm đầu hội đoàn này muốn tạo ra một hình ảnh không đúng về giáo hội nhất là đối với nước ngoài” .
Bài báo này được đính kèm theo văn thư ngày 20-5-1992 của Đức Hồng y Quốc vụ khanh Sodano gửi Đức cha Nguyễn Minh Nhật- Chủ tịch HĐGMVN lúc đó để nhắc nhở:“Một tổ chức vừa có tính chất công dân, vừa có tính chất chính trị có nguy cơ gây lẫn lộn giữa giáo hội và tổ chức chính trị” . Văn thư nhắc nhở các giám mục phải cảnh giác với tổ chức của UBĐK, không để các linh mục tham gia theo đúng tuyên bố của Thánh bộ linh mục ngày 8-3-1982 “Về một số hội đoàn và phong trào mà linh mục không được phép tham gia”.
Chúng tôi được biết, trong lễ tấn phong giám mục Cao Đình Thuyên ở Vinh ngày 19-11-1992, Đức cha Nhật đã trao đổi với các giám mục tham dự và đề nghị các giám mục phải chịu trách nhiệm về vấn đề tổ chức UBĐKCG trong giáo phận mình. Các giám mục phải báo cáo về Tòa thánh danh sách nhưng linh mục tham gia ủy ban, sự hiệp thông cũng như bổn phận mục tử của họ có chu toàn. Vì vậy, hầu hết các giáo phận nhất là phía Bắc, các Giám mục đều cấm linh mục tham gia UBĐKCG.
Đức cha Bùi Chu Tạo (Phát Diệm) tuyên bố, các linh mục chỉ được tham gia hội Chữ Thập Đỏ và Mặt trận Tổ quốc.
Đức cha Vũ Duy Nhất (Bùi Chu) đã có lần gọi linh mục Nguyễn Đức Hiệp (đại biểu Quốc hội và Chủ tịch ủy ban Nam Định) về Tòa Giám mục để đọc gương của linh mục Jean-Bertrand Aristide làm Tổng thống của Haiti và viết kiểm điểm.
Đức cha Nguyễn Quang Tuyến (Bắc Ninh) chắc cũng không ưa gì tổ chức này nên khi Ngài qua đời, ông Chủ tịch ủy ban Bắc Ninh Nguyễn Văn Hảo đã nói trong hội nghị của UBĐKCG tại Hà Nội ngày 2-1-2007 rằng: “Cái chết của giám mục Tuyến đã chấm dứt đau khổ cho ủy ban chúng tôi”.
Đức cha Nguyễn Văn Sang thì nói thẳng với những người đến vận động cho lập ủy ban ở Thái Bình: ”Xin cho biết Thái Bình không có UBĐKCG thì thua kém những nơi có ủy ban điểm gì. Nếu UBĐK thực sự có ích lợi, tôi sẽ cử những linh mục giỏi tham gia”.
Đức cha Trọng (Hà Nội) đã trả lời ông Chủ tịch UBĐK Hà Nội xin vào gặp về việc mở hội nghị của ủy ban: ”Nếu ông đến với tư cách giáo dân, tôi xin tiếp ông cả buổi. Nhưng với tư cách ủy ban thì xin miễn vì tôi không có thời gian”.
Một linh mục ở Bùi Chu đến gặp cha Quế ở xứ Hàm Long mượn áo lễ, cha đưa áo mới ra nhưng hỏi lại: ”Cha ra Hà Nội làm gì? Linh mục ở Bùi Chu trả lời: ”đi họp UBĐKCG”. Lập tức cha Quế đổi cho cái áo rách và nói, họp UBĐKG thì mặc áo này hợp hơn.
Nhiều hồi ký của các Giám mục, linh mục gần đây đều có thái độ phê phán tổ chức này. Ví dụ cuốn “Những câu chuyện về một thời” của Đức cha Lê Đắc Trọng, hay cuốn “Câu chuyện về những cây đại thụ” của linh mục Trần Hữu Thanh, Vũ Ngọc Bích (dòng Chúa cứu thế)…
Có những Giám mục có phát biểu có vẻ ủng hộ ủy ban như Đức TGM Nguyễn Văn Bình, nhưng tôi cho rằng, có thể Ngài muốn lợi dụng hoàn cảnh để truyền giáo giống như việc Ngài đã lập ra Ban kinh tế mới ở tòa Tòa Giám mục. Nghe rất “cách mạng” nhưng đấy là một cách đưa linh mục đi đến các vùng đất mới và duy trì đời sống đức tin cho giáo dân ở đây. Ngài cho một số linh mục tham gia vì tin tưởng “họ không bán đứng Ngài” . Nhưng về sau, khi trả lời báo Sài Gòn giải phóng ngày 29-4-1995, Đức TGM Nguyễn Văn Bình đã đề nghị các linh mục, tu sĩ rút dần ra khỏi UBĐK vì “nòng cốt phải là giáo dân. Các linh mục, tu sĩ chỉ nên có mặt ở mức độ cần thiết”.
Còn ở phía Bắc hầu như không có linh mục nào tham gia ủy ban. Có chăng là những linh mục già yếu, bệnh tật như cha Nguyễn Chu Trình (Phát Diệm), cha Đinh Trí Thức (Thanh Hóa). Có cha cũng “lẩm cẩm” nữa. Ví dụ, một cha ở Hưng Hóa cứ đinh ninh tham gia để được bổ nhiệm là Giám mục. Khi đã có giám mục rồi, lại tin sẽ được là giám mục phó vì công an nói thế! Dĩ nhiên, có cả một số cha buộc phải tham gia vì “scandal” mà không biết vô tình hay hữu ý, Nhà nước đã nắm được chứng cớ. Nay nhiều vị đã mất, nên xin miễn nêu danh tính ở đây.
Đại hội I của UBĐK năm 1983 là đại hội duy nhất có sự hiện diện của 2 giám mục. Các đại hội II, III chỉ có thư “cảm ơn” của các Giám mục khi được mời tham dự. Đại hội IV, không có thư của Giám mục nào. Tôi có may mắn được một nhà nghiên cứu cho xem những thư của các Giám mục về Ủy ban và phát hiện ra nhiều điều thú vị. Ví dụ thư của Đức cha Nguyễn Khắc Ngữ (Long Xuyên) viết cho linh mục Võ Thành Trinh: “Tôi có nhận được thơ cha hỏi ý kiến các Đức cha về đường lối của UBĐKCGVN. Tôi thiết tưởng đây là Ủy ban của Mặt trận, nên phải theo đường lối của Mặt rận đề ra. Các Đức cha không nên pha mình vào. Còn như các giáo dân làm việc trong đó thì cứ theo tinh thần công giáo của mình mà hành động thôi”.
Còn Đức cha Phạm Văn Lộc (Kontum) viết:
“Cha cầu mong sự đóng góp chỉ đạo”. Tôi không dám chỉ đạo, nhưng tôi có vài khắc khoải muốn bày tỏ cùng cha chủ tịch:
1- Từ năm 1972 ở vùng giải phóng có nhiều nơi, sinh hoạt tôn giáo hầu như bị đình trệ hoàn toàn, vì linh mục không được phép của nhà nước cho đến làm việc. Tệ hại hơn nữa, có nơi như câu biện, giáo phu… đã và đang bị bắt bớ, hành hạ. Nhà thờ, nhà nguyện nhiều nơi không còn nguyên vẹn mà nếu còn thì giáo dân không được sử dụng vào việc tôn giáo, bị trưng thu vào việc khác.
2- Trong phạm vi hoạt động của mình, các linh mục (cả tôi nữa) đã và đang gặp nhiều khó khăn khi thi hành trách vụ mặc dù hoạt động bị thu hẹp lại chỉ còn mấy giáo xứ trong thị xã mà thôi”.
Đức cha Phạm Văn Thiên (Phú Cường) đề nghị:
1- Đổi tên gọi vì hai tiếng “đoàn kết”và “yêu nước”gây nhiều hiểu lầm. Người ta nói công giáo có chia rẽ đâu mà phải đoàn kết? Người ta cũng nói: ai cũng yêu nước chứ riêng gì các nhân sự trong ủy ban.
2- UBĐKCG chưa nói lên được với chính quyền những quyền lợi chính đáng của người công giáo. Ủy ban chưa bênh vực được quyền lợi tinh thần của người công giáo”.
Đức cha Bùi Tuần nêu suy nghĩ:
1- Đại hội cuả UBĐKCG sẽ được tổ chức giữa tháng 10 năm 1990. Cũng trong tháng 10 này, tại Roma sẽ họp THĐGM thế giới. Nếu tại Thượng Hội Đồng này vắng mặt các GMVN thì đại hội UBĐKCG với sự tham gia đông đảo của giới linh mục như vậy ở Thủ đô liệu có thể làm gì để liên hệ đạo đời được tốt hơn hay là dịp để ủy ban bị hiểu lầm tai hại.
2- Đại hội ủy ban sẽ được tổ chức tại Hà Nội, giáo phận Hà Nội nay có Đức giám quản, tức Đức cha Phaolô Phạm Đình Tụng do Tòa thánh bổ nhiệm. Nếu sự bổ nhiệm này không được Nhà nước công nhận, thì các linh mục đi dự đại hội sẽ giải quyết vấn đề làm lễ và đi chào đấng bản quyền thế nào cho tốt đời đẹp đạo?
3- Việc đổi mới đã được khởi động khắp nơi từ mấy năm nay thiết tưởng áp dụng triệt để cho ủy ban ĐKCG. Nếu ủy ban xét thấy mình đã hoàn thành nhiệm vụ cho thời điểm đã qua và nay thấy không cần kéo dài thêm, thì nên tự chuyển mình sang hình thức mới, đáp ứng yêu cầu mới của tình hình mới” (Kỷ yếu Đại hội lần thứ II UBĐKCGVN năm 1990, Lưu trữ ủy ban ĐKCG).
Tôi có nghe một nhà báo công giáo kỳ cựu nói còn nhiều ý kiến sắc sảo nữa nhưng không sao tiếp cận được văn bản. Bây giờ, nếu trước đại hội V của ủy ban mà lại có thư thì thế nào cũng có Giám mục trả lời:
- UBĐKCG có nhiệm vụ phản ánh những nguyện vọng tâm tư của người công giáo mà sao vụ Tòa Khâm sứ, vụ nhà thờ Thái Hà, Hà Đông và rất nhiều nơi nữa vừa qua không thấy ủy ban nói một lời. Hay đấy không phải là nguyện vọng, tâm tư của giáo dân?
2- Thái độ của Nhà nước đối với UBĐK
Ở Việt Nam, Đảng cộng sản lãnh đạo toàn diện, trực tiếp và duy nhất đối với mọi vấn đề của xã hội, vì vậy, tổ chức của UBĐKCG cũng không thể đứng ngoài sự lãnh đạo này.
Ngay từ khi vừa mới ra đời, vấn đề tôn giáo đã được Đảng chú ý khi thành lập hội “Phản đế đồng minh” ngày 18-11-1930. Nhiều tổ chức quần chúng như “Thanh niên cứu quốc hội”,”Nông dân cứu quốc hội”… lần lượt ra đời. Các tổ chức tập hợp tín đồ các tôn giáo theo kháng chiến hình thành muộn hơn. Mãi đến nghị quyết của hội nghị Đảng cộng sản Đông dương ngày 14,15-8-1945 trong mục 8 mới ghi: “Mở rộng Việt nam Công giáo Cứu quốc hội. Cố cảm hóa quần chúng các hội Phật thày, Cao đài” .
Sau khi Nhà nước dân chủ nhân dân ra đời thì “Hội Việt nam Công giáo cứu quốc” cũng được thành lập. Đây là tổ chức trực thuộc Mặt trận Việt Minh. Nhà nước cũng đã vận động một số Giám mục Việt nam tham gia tổ chức này nhân lễ tấn phong Giám mục Lễ Hữu Từ ngày 28-10-1945. Vì vậy, sẽ không ngạc nhiên khi thấy một phái đoàn cao cấp của Chính phủ do các ông Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp dẫn đầu về đây tham dự. Rất may, ông Nguyễn Mạnh Hà được du học ở Pháp về (do bố vợ của ông thân Nguyễn ái Quốc nên ông được bổ nhiệm làm Bộ trưởng Bộ kinh tế của chính phủ Việt Minh) nhưng ông đã rất tỉnh táo vì không muốn giáo hội bị chia rẽ. Bởi vậy, ông Hà đã tham mưu cho Đức cha Lê Hữu Từ (Phát Diệm), Đức cha Hồ Ngọc Cẩn (Bùi Chu) lập ra Liên đoàn Công giáo Việt nam- một tổ chức Công giáo Tiến hành. Điều lệ của Liên đoàn được cả Tòa thánh lẫn chính phủ Việt Minh chuẩn y và cho phép hoạt động. Thế nhưng, rõ ràng, khi không nắm được quyền điều hành thì Nhà nước cũng cho nó im lặng luôn. Bằng chứng là tờ báoLiên đoàn do ông Nguyễn Đình Đầu phụ trách dù đã được cấp phép ngày 26-3-1946 đã chết yểu vì không ra được số nào.
Dĩ nhiên, Nhà nước không chịu thất bại nhất là sau biến cố hàng triệu người di cư năm 1954 vào Nam. Đầu năm 1955, Ban Bí thư Trung ương ra Thông tư số 1/TT-TW do ông Nguyễn Duy Trinh ký hướng dẫn thành lập Ủy ban Liên lạc Công giáo trong đó ghi rõ mục đích là “Tranh thủ rộng rãi các giáo sĩ và giáo dân; Làm cơ sở vững chắc cho các phần tử yêu nước tiến bộ trong công giáo” . Trên cơ sở Thông tư này mà ủy ban liên lạc đã ra đời vào tháng 3-1955 tại Hà Nội. Có một số người vẫn phê bình, hình như giáo hội quá lo xa về ủy ban này vì sợ mô hình công giáo tự trị như Trung Quốc. Chúng tôi thì có đầy đủ tài liệu để nói rằng sự lo lắng ấy là có cơ sở. Bằng chứng là Nhà nước đã cho các linh mục Võ Thành Trinh, Vũ Xuân Kỷ, Hồ Thành Biên đi Trung Quốc, Ba Lan để học tập cách làm.
Từ năm 1951 đến năm 1955, chính Hồ Chí Minh đã viết rất nhiều bài báo ký nhiều bút danh khác nhau để khen ngợi tổ chức “Hòa bình Chúa Kito” (một tổ chức Công giáo do Nhà nước lập) của Ba Lan và Công giáo “Tam tự” của Trung Quốc. Điển hình như các bài “Công giáo và chủ nghĩa xã hội” (báo Nhân dân ngày 27-9-1955, ký C.B); “Tự do tín ngưỡng” (Báo Nhân dân ngày 27-12-1951, ký tên M.H); “Công giáo Trung Quốc’ (Báo Nhân dân ngày 11-11-1955, ký tên C.B); “Những lời thắm thiết” (Báo Nhân dân ngày 27-1-1955, ký tên C.B)… Trong bài “Tổ quốc độc lập, tôn giáo mới tự do”, Hồ Chí Minh viết:“Từ tháng 7 năm ngoái, giáo dân Trung Quốc bắt đầu cuộc vận động “tự trị, tự dưỡng, tự truyền”, nghĩa là giáo dân tự cai quản lẫn nhau, không cần cha cố người ngoại quốc; các cha cố Trung Quốc tự làm ăn không nhờ vả ai; giáo dân tự tuyên truyền đạo Chúa”. Bài báo kết luận: “Ỏ nước ta, đồng bào công giáo đều yêu nước và hăng hái tham gia kháng chiến. Gương sáng của giáo dân Trung Quốc càng làm cho đồng bào công giáo Việt Nam thêm tin tưởng và quyết tâm” (Đen trắng rõ ràng, Nxb Sự thật 1952, tr34).
Chỉ thị 160/CT-TW của Ban Bí thư do ông Lê Văn Lương ký ngày 29-5-1968 còn nói rõ hơn: “Đồng thời kiên trì và khôn khéo giáo dục giáo dân ý thức tích cực tự giác, đấu tranh chống bọn phản động và xây dựng một giáo hội yêu nước” .
Như vậy chủ trương xây dựng một “Giáo hội yêu nước” theo mô hình Trung Quốc rất rõ ràng mà hạt nhân bắt đầu từ Ủy ban Liên lạc Công giáo. Dĩ nhiên, mong ước này không thành hiện thực vì tinh thần hiệp thông rất cao của giáo sĩ, giáo dân Việt Nam đã lan tỏa sang cả mấy linh mục nòng cốt ủy ban liên lạc lúc đó.
Đầu những năm 80, do ảnh hưởng từ phong trào dân chủ ở châu Âu nên cũng hình thành những tư tưởng đòi đa nguyên, đa đảng như ông Trần Xuân Bách- ủy viên Bộ chính trị, Trưởng ban tổ chức Trung ương. Ông này bị cách chức và để dẹp bớt hậu họa, người ta cũng cho các đảng Dân chủ, Xã hội “kết thúc sứ mệnh” bình phong. Người ta cũng đã bàn đến việc kết thúc vai trò của Ủy ban Liên lạc Công giáo. Thế nhưng, do có ý kiến là nếu giải thể thì mắc mưu Vatican nên Nhà nước lại cố duy trì song cho đổi tên khác theo kiểu tân trang “bình mới, rượu cũ”. Vì vậy, tháng 11-1983, “Ủy ban Đoàn kết Công giáo Yêu nước” đã ra đời. Do có nhiều người phê phán, có phải yêu nước là độc quyền của mấy vị trong ủy ban nên nó lại được đổi tên lần nữa là UBĐKCGVN từ tháng 10-1990 và mau chóng được Chính phủ phê duyệt qua công văn 180/TG-CP ký ngày 22-5-1991.
Là đứa con cưng của Nhà nước nên Nhà nước hết sức chăm bẵm ủy ban này. Bất kỳ Đại hội nào, đều có sự hiện diện của đủ các lãnh đạo cao cấp từ Tổng Bí thư, Thủ tướng đến Chủ tịch nước, Chủ tịch MTTQVN. Vậy mà Đại hội của các Giám Mục Việt Nam lại không có được ưu ái đó. Có Đại hội như Đại hội 8 (năm 2001), không biết có phải vì không hài lòng với việc bầu GM Nguyễn Văn Hòa là Chủ tịch hay không mà các Giám mục chỉ được ông Phạm Thế Duyệt- Chủ tịch MTTQ tiếp.
Nhà nước cũng giành nhiều Huân chương tặng cho ủy ban và nhiều lãnh đạo ủy ban một cách hào phóng như Huân chương độc lập hạng nhất năm 1983, huân chương HCM năm 2005 và rất nhiều huân chương cho các địa phương, cho các linh mục. Thậm chí linh mục Nguyễn Tấn Khóa chẳng có công trạng gì. Chính ông khoe với mấy linh mục ở Đà Nẵng rằng, không tặng huân chương thì ông bỏ ủy ban. Vậy là Nhà nước vội vã ký tặng khi Lm Khóa chưa kịp kê khai thành tích cá nhân. Mặc dù đây là điều kiện tối thiểu để xem xét.
Nhà nước cũng bao cấp nhân sự, tài chính cho tổ chức này. Khi mới thành lập, ủy ban trực thuộc Ban bí thư Trung ương. Khi Ban dân vận Trung ương thành lập (3-1976), ủy ban trực thuộc Ban dân vận và luôn cử một vị Phó ban tôn giáo của Ban dân vận về làm Chánh văn phòng ủy ban như ông Lâm Văn Cách. Từ năm 1986, khi ông Vũ Quang vừa phụ trách Ban dân vận vừa là Trưởng ban Tôn giáo Chính phủ thì ủy ban lại thuộc Ban tôn giáo. Thường xuyên có một cán bộ Ban tôn giáo sang làm Bí thư chi bộ của ủy ban. Có lúc cả ông Phạm Văn Khâm sau này là Quyền Trưởng ban tôn giáo chính phủ cũng kiêm luôn làm văn phòng ỦBĐKCG. Từ năm 1995, sợ mang tiếng là “cánh tay cuả Đảng”, nên mấy linh mục ở ủy ban đề nghị đưa sang trực thuộc Mặt trận TQVN. Và bây giờ, Mặt trận lại cử một ông Phó ban dân tộc tôn giáo Nguyễn Văn Công sang làm Chánh văn phòng UBĐK. Văn phòng ủy ban và tờ báo “Người công giáo VN” chỉ có mươi người nhưng nơi nào cũng có một chi bộ Đảng và ông Bí thư được cơ cấu là Đảng ủy viên khối Mặt trận. Tiêu chuẩn về đây không cần phải là người công giáo. Nếu công giáo phải là đảng viên. Có một người viết báo lâu năm, viết rất tốt quê ở Bùi Chu, đã tốt nghiệp đại học, quen biết nhiều linh mục nhưng xin về báo Người công giáo VN không được vì không phải là đảng viên, sợ Vatican cài cắm vào vì anh này học chủng viện ra.
Cài cắm như vậy, mà xem chừng Nhà nước vẫn chưa yên tâm. Theo lời linh mục Nguyễn Tấn Khóa nói với mấy linh mục Đà Nẵng thì ông Nhà nước cũng chẳng tin “các cụ” mặc dù lúc nào cũng nói “mọi việc do các cụ quyết cả”. Bằng chứng là các cụ muốn giới thiệu ai đâu có được và muốn thay ai cũng vậy. Ông Đàm Quang Vinh- vẫn theo lời linh mục Khóa là Thư ký văn phòng nhưng quanh năm chẳng làm nổi một báo cáo ra hồn. Năm nào báo cáo cũng giống nhau chỉ khác nhau năm tháng. Số liệu nào cũng hàng tỷ đồng lại dính vào chuyện bất minh tài chính. Mấy “cụ” bực lắm muốn tống trả cho Mặt trận mà từ đời cụ Ái, cụ Từ đến cụ Khóa cũng chịu vì nghe nói là người của công an cài vào để theo dõi các cụ. Bây giờ ông Vinh lại được cất nhắc là Phó văn phòng kiêm chủ tài khoản ủy ban rồi.
Về kinh phí, hiện nay mỗi ủy ban cấp tỉnh được cấp từ 30 đến 150 triệu đồng /năm. (Cả nước có 39 ủy ban). Ủy ban Bắc Giang nói rủ nhau đi tham quan nơi này nơi kia cũng không hết tiền. T.p Hồ Chí Minh cấp Quận huyện cũng được cấp tiền. Mỗi vị Chủ tịch được lương tháng từ 500 ngàn đến 1 triệu đồng. Các linh mục được từ 1 đến 1,5 triệu đồng. Ngoài ra còn được bồi dưỡng các kỳ họp. Chủ tịch UBĐK cơ cấu là Phó Chủ tịch MTTQ Trung ương được chế độ như Bộ trưởng. Linh mục Khóa được cấp xe biển xanh 31A, lái xe, xăng xe, nhà nước chịu hết. Các vị còn được khám chữa bệnh như cán bộ cao cấp miễn phí. Linh mục Nguyễn Đức Hiệp (Bùi Chu) mổ tim mất chừng 500 triệu cũng Nhà nước chịu. Nhà nước bù lỗ cho Báo Người công giáo VN mỗi năm 600 triệu đồng… Một ông nhà báo công giáo đã tính rằng, mỗi năm nhà nước phải chi cho UBĐK chừng gần 5 tỷ đồng. Số tiền này nếu để mua 500 tấn gạo để cứu đói hay làm 1000 ngôi Nhà Tình Thương thì tốt biết bao.
Khi sống, các linh mục lãnh đạo ủy ban được ưu ái mỗi năm mấy chuyến máy bay vu vi từ Bắc vào Nam. Đi thăm thú nơi đâu hay về quê, cứ bảo là có xe đưa đón cả tháng cũng được. Đi họp Quốc hội thì có người phục vụ, thứ bảy, chủ nhật lại xe đưa về quê làm lễ. Còn nếu chết thì tang lễ cấp cao, quàn xác ở dinh Thống nhất, nhà tang lễ quốc gia và có đủ vòng hoa của các nguyên thủ nhà nước đến viếng.
Vì yêu quý ủy ban như vậy nên Nhà nước hết sức bảo vệ ủy ban. Ai chống ủy ban đồng nghĩa với chống Nhà nước. Vì vậy linh mục Phạm Hân Quynh chống ủy ban liên lạc liền bị quản thúc suốt từ năm 1960 đến năm 1988. Tại Huế, năm 1983, khi các linh mục đồng ký tên bất tín nhiệm linh mục Nguyễn Kim Bính- người đã tham gia UBĐK, sau đó Đức TGM Nguyễn Kim Điền đã “treo chén” linh mục này. Một số người cho đây là lý do đã dẫn đến những căng thẳng với chính quyền mà Ngài đã phải viết những bức trối thư để lại như thế này: “Khi tôi bị bắt rồi, thì xin anh chị em đừng ai tin lời khai nào, dù có kèm theo chữ ký mà người ta kể là của chính tôi. Giờ đây chỉ còn việc là tôi tha thiết xin anh chị em cám ơn Chúa với tôi, đồng thời tiếp tục cầu nguyện cho tôi được trung thành với Chuá và Hội thánh cho đến hơi thở cuối cùng” (Thư ngày 19-10-1985).
Theo một số linh mục ở Huế, cả cái chết đau đớn của Ngài tại bệnh viện Sài Gòn tháng 6-1988 cũng là một dấu hỏi lớn mà có mấy người đang cất công lần mò để tìm ra sự thật.
Hai GS Pháp là C. Prudhomme và J.F. Zonr đã nhận xét rằng: “Việc thành lập UBĐKCG ở Hà Nội… một tổ chức liên hiệp của những người công giáo yêu nước có thể được coi như một giai đoạn mới của chính sách kiểm soát của chính phủ và nhằm sáp nhập đạo công giáo vào Mặt trận Tổ quốc Việt Nam” (Histoire du Christianisme, tập 13, Desclec, Paris 2000, tr.672.).

3- Chân dung UBĐKCG

Báo cáo dự thảo của UBĐK trình đại hội V đề ngày 1-3-2008 viết: “Trong suốt quá trình 50 năm hình thành và phát triển tổ chức ngọn cờ của phong trào thi đua yêu nước trong đồng bào công giáo VN trong mọi điều kiện và hoàn cảnh luôn là nơi quy tụ, tập hợp giới công giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc” (tr.5). Chúng ta thử tìm hiểu xem ủy ban này đã tập hợp được những ai?
Theo báo cáo của UBĐK, hiện nay tổ chức này đã phát triển ra 39 tỉnh thành (trong 65 tỉnh thành cả nước), với hơn 400 linh mục, tu sĩ tham gia ủy ban các cấp. Theo điều tra của chúng tôi, ở trung ương, khóa 4 có 104 vị ghi danh, trong đó có 62 linh mục, tu sĩ. Thế nhưng, nhiều người nói đấy là “Hội của những người siêu cao tuổi” vì có tới 94 vị từ 60 tuôỉ trở lên (chiếm 91,2%). Số dưới 50 tuổi chỉ có 10 người (8,8%). Có những linh mục điếc nặng, hơn 100 tuổi như linh mục Nguyễn Chu Trình (đã mất). Có những linh mục đi họp phải có người cõng. Có một số “lẩm cẩm” nặng, nói không ai hiểu gì. Ông Vũ Thái Hòa nguyên chuyên viên Ban Tôn giáo Chính phủ cũng là ủy viên UB phải đi họp trên lưng đứa cháu. Ông Vũ Văn Chuyên trên ngực phải có biển đề số nhà, điện thoại sợ đi lạc đường, công an biết lối đưa về… Có nhiều linh mục chỉ ghi danh, đi họp là một lần ra Hà Nội miễn phí máy bay để thăm bạn bè, chữa bệnh. Có một số chỉ đi họp một lần rồi “biến mất tăm” như linh mục Trần Đức Hạnh (Cao Bằng). ở Hà Nam, người ta cũng ghi danh 5 linh mục nhưng không thấy có ai xuất hiện. Tại một số nơi như Hà Nội, Bắc Ninh, Hải Phòng, Ban tổ chức chỉ xin các linh mục ghi danh và đến chụp một tấm hình mà cũng không được.
Những người trong UBĐK vẫn tự phong là “những người công giáo tiêu biểu” nhưng có lần Đức Hồng y Phạm Đình Tụng đã từ chối gặp vì cho rằng: “gọi họ là gì cũng được nhưng công giáo tiêu biểu thì không bởi nhiều người đã không còn giữ đạo, họ vợ nọ chồng kia, không chịu các Bí tích và gia đình cũng thế thì sao gọi là công giáo tiêu biểu được!”. Điều kỳ lạ là, trong các bữa liên hoan của tổ chức này có hiện diện đủ cả linh mục, tu sĩ, giáo dân nhưng không thấy họ làm phép trước bữa ăn bao giờ. Một cán bộ Mặt trận nói với tôi là ông thường phải giục “Các cụ làm phép đi” thì “các cụ” mới miễn cưỡng làm cho qua chuyện. Linh mục Vũ Ngọc Bích có lần đi nhờ xe về Phát Diệm nhân lễ tang của linh mục Nguyễn Thế Vịnh ngày 18-12-1983 (Chủ tịch ủy ban Liên lạc) ghi lại như sau: “Buổi chiều về lại Hà Nội, tại trụ sở của UBĐKCG, có nhiều linh mục, cả các vị từ miền Nam ra, các nữ tu và giáo dân, ăn uống bừa bãi, nói năng lung tung” (Câu chuyện về những cây đại thụ, tr.31). Linh mục Bích cũng kể lại rằng, chính mấy vị trong ủy ban theo dõi cha chặt chẽ vì sợ cha được Đức cha Tạo phong chui làm giám mục Phát Diệm. Đức cha Lê Đắc Trọng cũng nhận xét về những ông “công giáo tiêu biểu này: “Tuy là công giáo, nhưng không phải đạo được lợi ở các ông. Trái lại, nếu là người phò đạo sao được vào các chức vị đó. Thường đó là những người có đạo mà không ưa đạo, lấy địch đánh địch, lấy người có đạo để phá đạo. Đó là chính sách từ thời cổ xưa. Đạo không nhờ những người như thế, trái lại phải khổ sở về những người đó” (Những câu chuyện về một thời, tập 2, tr.207). Nói về linh mục Nguyễn Thế Vịnh, Đức cha Trọng viết:“Đặc biệt là cha Nguyễn Thế Vịnh. Còn đi xa hơn nữa, rồi xa địa phận, đứng trong hội “Liên lạc”. Khi cha Vũ Xuân Kỷ qua đời vào năm 1972, cha Nguyễn Thế Vịnh thay thế và lãnh đạo phong trào với niềm xác tín. Chứ không như vị tiền nhiệm có vẻ xu thời, không hiểu việc mình làm, bảo đi đâu, làm việc gì cũng được” . Đức cha cũng ghi lại lời của linh mục Nguyễn Tất Tiên (cùng trong ủy ban liên lạc) về linh mục Vịnh: “Ông ấy phải sa đáy hỏa ngục” (sdd, tr.213).
Có người nói, UBĐK cũng làm được một số việc như in ấn sách vở đạo lúc khó khăn trước thời “cởi trói” nhưng họ đâu biết đấy là đặc ân Nhà nước ban cho ủy ban để làm kinh tế và kể công với giáo hội bất chấp nội dung trái với đức tin. Cuốn “Đức Mẹ Naju”do linh mục Vương Đình Ái (Chủ tịch UBĐK) dịch và phát hành bán thu lời mấy chục ngàn đô la do tổ chức của bà Julia Youn (Nam Hàn) tài trợ toàn bộ kinh phí in và biếu không nhưng vẫn bán ở VN với giá 10.000 đồng. Đây là cuốn sách ở Nam Hàn đã cấm và Đức cha Nguyễn Văn Sang cũng dịch lời cảnh báo của Đức TGM Quang Du về hiện tượng rối đạo này nhưng linh mục ái vẫn làm. Chỉ có điều “ky cóp cho cọp nó xơi”, mấy chục ngàn đô la lời qua vụ làm ăn này lại bị mất trộm đúng ở cơ quan UBĐK 34 Ngô Quyền, Hà Nội. Thế mới đau.
Tờ Công giáo và dân tộc thì luôn cổ vũ cho phong trào “Thần học giải phóng” - một khuynh hướng đã bị Tòa thánh phê phán kịch liệt và ngưng hoạt động ở châu Mỹ. Một số linh mục đứng đầu UBĐK luôn đưa ra những lập luận rất xa lạ với đức tin. Linh mục Trương Bá Cần viết về “lễ giỗ Bác Hồ, xung quanh một bàn tiệc thánh”: “Ý định của Thiên Chúa đã bắt đầu thực hiện trên đất nước Việt Nam nhờ công lao của Hồ Chủ tịch. Nếu Hồ Chủ tịch muốn vào Nước Trời, Người sẽ vào trước hết” (Báo CG&DT số 44 tháng 5-1976). Lạ thật, Nước Trời đâu có phải UBĐKCG mà linh mục Cần muốn cho ai vào cũng được.
Khi Tòa thánh cảnh báo về mối nguy hại của UBĐKCG: “Mặc dù ủy ban này- như danh xưng đã chỉ có ý nhằm cổ vũ lòng yêu nước của người Công giáo, nhưng trên thực tế đã hành động như một tổ chức vừa có tính công dân vừa có tính chất chính trị. Do vậy không thể không dẫn đến nguy cơ lẫn lộn giữa giáo hội và tổ chức chính trị, một nguy cơ mà công đồng Vaticano II đã lưu ý các giám mục và linh mục phải đề phòng” (Thư Đức Hồng y Sodano gửi GM Nguyễn Minh Nhật ngày 20-5-1992). Thì trên tờ CG&DT có một loạt bài chống lại quan diểm của Tòa thánh. Linh mục Vương Đình Bích viết: “Không một người nào, một vị giám mục nào có thể vin vào giáo luật để cho mình quyền hành cấm đoán linh mục của mình tham gia những hình thức sinh hoạt chính trị công dân như hiện nay. Thậm chí cấm đoán như vậy là xâm phạm quyền công dân của người khác, vi phạm luật Nhà nước, không miễn trừ một ai” (Nguyệt san số 37 tháng 1-1998). Một tác giả khác là Nguyễn Ngọc Bích thì lý luận: “Khỏi phải nói UBĐK là một tổ chức được chính quyền ủng hộ. Sự ủng hộ này nói lên điều gì? Chính quyền, xét cho cùng cũng là những con người, dĩ nhiên nằm trong một phạm trù khác. Nhưng có một người nào lại ủng hộ một cái gì xấu không? Chắc là không. Vì chẳng có ai bỏ sức đi tưới một cái cây héo. Bởi thế dù phán đoán như thế nào về mục đích và ý nghĩa của sự ủng hộ nơi chính quyền với UBĐK thì như một người lương hảo, ta không thể nói UBĐK là một tổ chức không tốt” (sdd, tr.47). Nói như tác giả này thì chắc phát xít Đức, Apacthai, hay diệt chủng Pôn Pot cũng không phải là xấu vì đó cũng là những “con người”!
Trong các kỳ họp hội của tổ chức này hoàn toàn không giống sinh hoạt hội đoàn công giáo. Trước đây chỉ có chào cờ chứ không bao giờ nguyện kinh Chúa Thánh thần. Gần đây, người ta có hát “Kinh hòa bình”, coi như quốc ca của ủy ban. Chẳng biết trong lễ nhận Huân chương Hồ Chí Minh của UBĐK ngày 6-4-2005 có cầu nguyện cho Đức Gioan Phaolo II ra sao mà báo Nhân dân ngày 7-4 đưa tin: “Trước khi vào họp, các linh mục, tu sĩ và giáo dân đã tổ chức cầu siêu cho Giáo hoàng Jean Paul II” . Trong thư của ủy ban gửi mỗi dịp Đại hội hay Giáng sinh chỉ nói gửi cho các linh mục, tu sĩ, giáo dân chứ không bao giờ nói đến gửi cho các Giám mục.
Chúng tôi có khá nhiều đơn từ (bản sao) tố cáo đời sống tha hóa của một số linh mục đứng đầu UBĐK. Nhiều bài báo, tác phẩm in ở hải ngoại cũng đã nói đến như cuốn“Công giáo VN trong dòng sinh mệnh dân tộc” của Tiến sĩ Cao Thế Dung, hay cuốn“Hẹn thắp lên” của Gs Nguyễn Ngọc Lan. Có linh mục vì không giữ được lời khấn nên làm lễ không ai xem, không ai nuôi nên Nhà nước phải cấp tiền để đi chợ rất lôi thôi như linh mục NDL (ở Thái Nguyên). Khi Đức cha Nguyễn Sơn Lâm còn làm Tổng thư ký HĐGMVN, Ngài cũng có ý định giải quyết dứt điểm vấn đề UBĐK nhưng với điều kiện ủy ban phải làm đơn và trình Điều lệ cho các GM xem xét và các người tai tiếng xấu phải ra khỏi ủy ban. Dĩ nhiên, đời nào họ theo thiện ý của Đức cha Thanh Hóa. Khi Nhà nước có ý định mời một vài Đức cha tham gia Mặt trận TQVN thì chính những linh mục trong UBĐK lại phản đối gay gắt nhất vì đơn giản, nếu đã có Giám mục thì Nhà nước cần gì mấy linh mục trong ủy ban nữa.
Có người tố cáo sự “cài cắm” mấy linh mục như Từ- Cần- Minh -Bích của Nhà nước vào giới công giáo. Một ông công an thành phố HCM bảo tôi: Các ông công giáo không có lòng vị tha. Có thể ông Cần trước đây là đảng viên thật nhưng ông ấy đã bỏ đảng để theo đạo cũng như có người bỏ đạo để theo đảng mà sao bây giờ các ông cứ bới móc “đánh” ông ấy thế! Tôi trả lời: Tôi không biết chuyện ông Cần bỏ đảng để theo đạo là thật hay giả nhưng những việc ông ấy làm thì người ta có quyền nghi ngờ tính công giáo của ông ấy. Đồng thời, ông ấy có thể lấy gương Phạm Ngọc Thảo- một người công giáo và cũng là điệp viên siêu hạng của cộng sản đã trá hàng về với quốc gia, đeo lon đại tá nhưng rồi cũng bị chính Nhà nước cộng sản bỏ rơi, mà suy gẫm.
Sau hồi tranh cãi nhau về chức vụ Tổng biên tập Báo CG&DT cũng như chuyện tiền nong ở 15 Tú Xương, Quận 3 của mấy “cha yêu nước”, bức thư của linh mục Vương Đình Bích đề ngày 25-12-1997 gửi lãnh đạo Thành phố HCM đã làm rất nhiều người kinh ngạc: “Tôi đã thành khẩn nói với hai anh Từ và Cần là vấn đề thật của tổ chức chúng ta, không phải nhóm nghiên cứu mà là nhóm 4 anh em chúng tôi, Minh- Cần- Từ – Bích đã được lãnh đạo gầy dựng và giao nhiệm vụ điều động phong trào công giáo yêu nước tại thành phố này” . Hóa ra, các cụ “dấn thân” còn là nhiệm vụ Đảng giao nữa đấy. Thảo nào, linh mục Nguyễn Tấn Khóa bảo với mấy linh mục ở Đà Nẵng rằng, UBĐK là câu lạc bộ của mấy ông Từ, Cần, Thiện Cẩm, Bích. Mấy ông này già sắp chết cả rồi nên Nhà nước muốn giữ cũng chỉ được khóa này nữa mà thôi.
Trên các phương tiện truyền thông ở VN chỗ nào cũng thấy “mấy cha” xuất hiện. Có người nghĩ chắc mấy cụ “uy tín” lắm. Xin thưa, Nhà nước cũng “ngán” các cụ lắm rồi. Linh mục Từ thì đã không được Mặt trận cơ cấu vào Quốc hội khóa 12 và Mặt trận Trung ương khóa 8. Các linh mục Nguyễn Công Danh và linh mục Thiện Cẩm dù đã được Ban bầu cử cho chọn nơi ứng cử và cho các báo Nhà nước tuyên truyền cổ vũ nhưng vẫn trượt chỏng gọng dịp bầu cử Quốc hội khóa 11 và khóa 12 vừa qua. Trong khi chỉ riêng việc tổ chức họp giới thiệu các cụ ra ứng cử đã tốn phí cả trăm triệu đồng.
Nhà báo Nguyễn Kế Nghiệp làm thư ký tòa soạn báo Người công giáo VN hơn 20 năm, khi về hưu ở quận Thủ Đức, T.p HCM (dĩ nhiên anh Nghiệp là đảng viên và không phải người công giáo) có lần bảo tôi: Ông có biết vì sao cái UBĐK vẫn còn tồn tại đến nay không? Nhà nước cũng muốn dẹp cái cây cảnh héo này lắm rồi nhưng dẹp thì mấy chục cán bộ ở ủy ban và Báo đi đâu? Tôi đố tay nào ở cơ quan này đi xin nổi việc ở nơi khác vì có biết làm gì? Chỉ ngồi ăn sẵn và dọa Nhà nước về nguy cơ của Vatican để nhận lương mà thôi!
Hôm họp Đoàn Chủ tịch và Ban Thư ký ngày 27,28-2-08 dù không được họp nhưng tôi có nhờ một người ghi âm giúp. Bật băng lên, tôi nghe rõ tiếng một ông nhà báo nay là Thư ký ủy ban nhắc nhở các cụ, tuyệt đối không để lộ ra chuyện Nhà nước cung cấp tài chính cho ủy ban. Đây là vấn đề tuyệt mật. Lộ ra sẽ mang tiếng là giáo hội quốc doanh ngay.
UBĐK đưa ra những nhiệm vụ rất kêu, nào là “bảo vệ sự trong sáng của đạo thánh Chúa”, nào là “hướng dẫn và tổ chức phong trào yêu nước của người công giáo”, nào là “bênh vực và bảo vệ quyền lợi vật chất và tinh thần của người công giáo”. Nhưng tôi đố ai chứng minh rằng ủy ban đã làm được những việc ấy. Xưa nay, tất cả các hoạt động từ thiện bác ái người công giáo làm là theo lời kêu gọi của các giám mục, của đức tin công giáo chứ mấy ông ủy ban kêu gọi ai nghe. Nhiều tấm gương điển hình của giáo dân như nữ tu Nguyễn Thị Mậu 40 năm giúp đỡ các bệnh nhân phong, liệt sĩ Trần Thị Mai – hy sinh thân mình cứu người trong cơn lũ quét, giáo dân Nguyễn Văn Mỳ, mù hai mắt vẫn theo dõi thời tiết hàng ngày để báo cho ngư dân trên biển…luôn được đưa vào báo cáo thành tích của ủy ban nhưng họ có biết UBĐK là ai và ủy ban cũng chưa bao giờ tặng họ một bông hoa hay lời kinh nguyện khi họ qua đời.
Ủy ban là người nhắc đến Thư chung 1980 của HĐGMVN nhiều nhất nhưng họ chỉ nhấn mạnh mỗi một điểm là Xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, trong khi Thư chung đồng hành cùng dân tộc còn có nghĩa là xây dựng một lối sống, lối diễn tả đức tin theo bản sắc dân tộc. Các linh mục trong ủy ban vẫn nói hiệp thông với giáo hội nhưng có lẽ hầu hết đi họp hành không xin phép đấng bản quyền. Đức cha Sang đã xác nhận trường hợp linh mục Tuyên chưa bao giờ xin phép. Linh mục Nguyễn Công Danh nói, có lần đến xin phép Đức Hồng y Mẫn, Ngài quát: Tôi làm gì có cái phép đó mà cho! Có linh mục trí trá trước khi đi họp liền đến xin chào thăm Đức Giám Mục, khi về thì nói: Lạy Đức cha, con xin phép con đi! Đức Giám Mục nghĩ là linh mục đó xin phép đi về. Còn linh mục đó cho rằng, mình đã xin phép đi họp.
Nhiều bài báo đã “ghi công” UBĐK với các vụ phong thánh năm 1988, vụ phản đối TGM Nguyễn Văn Thuận năm 1975 hay vụ Giám quản Huỳnh Văn Nghi năm 1993. Chúng tôi cũng có hàng trăm trang tư liệu về việc này. Ông Trần Công- Tổng biên tập báo Người công giáo VN, sau khi bị mấy cụ cho mất chức Chánh văn phòng ủy ban vì không phải là “công giáo tử tế”, ông này cũng làm đơn tố cáo lại mấy cụ và khẳng định chắc chắn rằng, chính “mấy cụ yêu nước” đã thổi phồng vụ phong thánh với ông Chín Đào (tức Phan Minh Tánh) lúc đó là Trưởng ban dân vận trung ương để lập công làm Nhà nước tốn bao tiền của và công sức bất chấp những lời ngăn cản của các GS nổi tiếng như Hà Văn Tấn, Trần Quốc Vượng nói rằng: Thần thánh của người ta, xấu tốt họ chịu. Can gì đến Nhà nước mà xía vô…
Đầu năm nay, một ông cán bộ Mặt trận có cho tôi mượn một cuốn sách nhan đề “Suy nghĩ về vai trò của UBĐKCG” của linh mục Thiện Cẩm. Sách làm năm 2006, dày 120 trang do linh mục tự in. Đọc xong, tôi ngạc nhiên, không hiểu linh mục Thiện Cẩm ăn giải gì mà đứng ra “hộ giáo” cho ủy ban hăng hái như vậy? Tác giả cũng thừa nhận rằng ủy ban” không nhận bất cứ một bài sai hay một ủy quyền chính thức nào của giáo quyền”(tr.42) và cũng biết rõ dư luận giáo hội muốn “UB này nên ra đi, chấm dứt vai trò, cũng như chính sự tồn tại của mình” (tr.36). Thế nhưng, linh mục Thiện Cẩm khẳng định:“UBĐK không phải là một đảng phái hay tổ chức chính trị, mà là thành phần của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, quy tụ dưới mái nhà chung của MTTQVN” (tr.39). Đến đây thì người đọc đã hiểu mục đích của tác giả. Linh mục Thiện Cẩm viết tiếp: “Nhân chuyến đi họp Ban tổ chức Đại hội UBĐKCGVN tại Hà Nội đầu tháng 4-2002 vừa qua, trên đường trở về thành phố, anh Trương Bá Cần nói với tôi đại khái: Thế tại sao người Công giáo chúng ta không coi Mặt trận Tổ quốc là môi trường hoạt động công giáo tiến hành nhỉ?” (tr.32). Lại chuẩn bị “bình mới rượu cũ” đây. Cái áo chùng thâm không làm nên linh mục. ủy ban có đổi tên trăm lần nó vẫn là ủy ban ĐKCG. Sự khác nhau giữa công giáo tiến hành với ủy ban là công giáo tiến hành được phép của Giáo hội còn ủy ban thì chỉ được phép của Nhà nước mà thôi.
Thay lời kết
Đầu bài viết này là câu hỏi. Hy vọng qua những tư liệu, chứng cớ mà tôi đưa ra trên đây cũng sẽ phần nào giúp quý vị bạn đọc có được câu trả lời cho riêng mình. Trước khi dừng lời xin thuật một chuyện. Có lần tôi gặp cha Phạm Hân Quynh tại phòng riêng của cha Lê Đức Sinh- Thư ký Đức Hồng y Tụng. Cha Quynh kể, ông Nguyễn Mạnh Hà, nguyên Bộ trưởng Bộ kinh tế của chính phủ Việt Minh nhưng cũng là người sáng lập ra Thanh lao công Hải Phòng có viết đơn phản đối chính sách của Nhà nước đối với công giáo. Một vị cán bộ cao cấp gặp ông Hà nói: Sao ông không gia nhập ủy ban liên lạc công giáo để đối thoại với Nhà nước có tiện không? Ông Hà trả lời:
“Các ông có cái đầu, người công giáo chúng tôi cũng có cái đầu. Chỉ tiếc rằng, bao năm qua, các ông chỉ thích nói chuyện với cái… đầu gối của các ông thôi”.
Vâng, có lẽ Nhà nước vẫn còn muốn đối thoại với cái đầu gối và cũng có một số người công giáo vẫn còn muốn làm cái đầu gối ấy.
(Đà Nẵng- Sài Gòn, Mùa chay 2008)
GS. Hà Thành
Nguồn: VCN

0 nhận xét

Đăng một nhận xét