Đã gần hai tháng trôi qua nhưng dư âm của cuộc bầu cử Quốc hội bổ sung ở Miến Điện vẫn có sức lan tỏa lớn. Vẫn còn nhiều dè dặt, thậm chí là hoài nghi về những đổi thay chính trị chóng vánh ấy, nhưng điều đó không có nghĩa là chúng ta không được quyền tin tưởng vào một tương lai mới, tốt đẹp hơn cho xứ sở vàng này.
Miến Điện thay đổi, Việt Nam thì chưa
Nhiều nguyên nhân của sự thay đổi được nói đến: 1/do tác động của Hoa Kỳ và phương Tây lên chính quyền Miến Điện vì họ không muốn Miến Điện với vị trí địa chính trị quan trọng, rơi vào tay Trung cộng; 2/do sức ép về sự nghèo khổ, lạc hậu và ngày càng phụ thuộc vào Trung Quốc; 3/do tinh thần dân tộc và lòng yêu nước của những người lãnh đạo Miến Điện trước hiện trạng đất nước bị cô lập với thế giới ; 4/do sự đấu tranh ngoan cường của nhân dân Miến Điện dưới biểu tượng Aung San Suu Kyi, cùng với tác động của các cuộc nổi dậy ở Ả Rập khiến Nhà cầm quyền nhận thấy sự cần thiết phải nới lỏng chính sách cai trị “bàn tay sắt” của mình nếu không muốn chịu chung số phận với những kẻ độc tài đã ra đi ở Ả Rập…
Có thể mức độ tác động của những nhân tố này lên sự cải cách chính trị ở Miến Điện là không giống nhau, nhưng thiển nghĩ nguyên nhân của vấn đề nằm trong mối quan hệ cộng hưởng tất cả các nhân tố này. Không phải là cái này hay cái kia mà là tất cả; vấn đề là nhấn tố nào đóng vai trò cốt yếu, thúc đẩy các nhân tố còn lại.
Với nguyên nhân đầu tiên, tức là vị tri chiến lược của Miến Điện đã giúp họ, ta có thể đặt câu hỏi là Việt Nam với bờ biển dài nhìn ra một vùng biển chiến lược không quan trong trong con mắt người phương Tây và Mỹ sao? Nếu căn cứ vào nguyên nhân thứ hai, tức tình trạng nghèo khổ và bị cô lập, thì ta ngỡ ngàng tự hỏi: Bắc Triều Tiên không nghèo khổ và bị cô lập với thế giới ư? Về nguyên nhân thứ ba, nếu tập đoàn độc tài Miến Điện yêu nước thì sao lại khiến Miến Điện kiệt quệ như thế rồi mới đổi ý, tại sao mới đây họ vẫn đàn áp đẫm máu các cuộc biểu tình năm 2007; lâu nay họ vẫn cai trị bằng chính sách khắc nghiệt, tại sao bỗng nhiên trở nên đầy lương tri như thế? Và với nguyên nhân cuối cùng, ta có thể nhận thấy rằng, người Mỹ và phương Tây chỉ can thiệp vào những nơi mà tự nó đã có một phong trào vững mạnh và cũng chính sự phản kháng mạnh mẽ ấy của người dân Miến mới là điều gợi lên trong tâm trí những kẻ cầm quyền ý muốn thay đổi nhiều nhất, vì họ cảm thấy thực sự bất an về tương lai của mình. Với kiến thức hạn hẹp của mình, tôi nghĩ, đây mới là nguyên nhân nền tảng, là điều kiện tiên quyết, ảnh hưởng đến các nguyên nhân còn lại.
Miến Điện phản kháng mạnh mẽ, Việt Nam thì chưa
Từ cách nhìn nhận rằng một phong trào quần chúng phản kháng bền vững và mạnh mẽ là vô cùng quan trọng, nhiều câu hỏi cứ quanh quẩn trong đầu tôi, và có lẽ cũng ám ảnh khá nhiều người. Tại sao ngay từ năm 1974 đã có những cuộc biểu tình lớn ở Miến Điện, và năm 1988 đã có nửa triệu người tham gia meeting nghe bà Aung San Suu Kyi đọc diễn văn? Tại sao năm 2007, hơn 20.000 người bao gồm các nhà sư và dân chúng Miến Điện đi biểu tình, còn Việt Nam vào năm 2011, số người đi biểu tình chỉ bằng 1/10 con số ấy vào lúc cao điểm (dù ở ta, chỉ là biểu tình phản đối Trung Quốc chứ không phải là biểu tình đòi tự do dân chủ-một đòi hỏi tiến bộ, quan trọng và cũng nhạy cảm hơn nhiều)?
Người Miến Điện không sợ hãi sao? Không, đã là con người không ai muốn mang sự an toàn và sinh mạng của mình ra thách đố, đặc biệt là thách đố những kẻ cai trị có vũ trang. Người Miến Điện cũng vậy. Bằng chứng là theo các phóng viên quốc tế có mặt tại Miến Điện, sau những tuyên bố cải cách của chính quyền, nhiều người dân còn rất dè dặt, có người còn không dám dừng lại nhìn ảnh Aung San và con gái quá lâu vì họ e ngại những sự “cởi trói” này là giả dối (kiểu như năm 1986 Nguyễn Văn Linh “cởi trói văn nghệ sĩ “).
Người Miến Điện dám dấn thân vì họ từng có kinh nghiệm với nền dân chủ ư? Đồng ý kinh nghiệm về một nền dân chủ là điều kiện thúc đẩy lòng kháo khát được sống tự do. Nhưng người dân bình thường rất dễ quên, trong một khoảng thời gian đủ dài bị cai trị quá khắt nghiệt, họ sẽ quên mất mình từng được hưởng điều gì; huống chi lớp người đã từng kinh qua nền dân chủ ở Miến Điện vào thời điểm năm 1988 đã già và những người hăng hái đấu tranh nhất trong cuộc nổi dậy 8888 lại là những người trẻ. Và một câu hỏi quan trọng được đặt ra ở đây là : người miền Nam Việt Nam không có kinh nghiệm với dân chủ sao?
Hay vì dân Miến Điện quá đói khổ và thiếu thốn mọi phương tiện khiến họ phải đấu tranh, còn ở Việt Nam dù sao vẫn còn có thể chịu đựng được? Chúng ta hãy nhớ lại, năm 1962 khi Ne Win thiết lập chế độ độc tài, thì đến năm 1974, tức là 12 năm sau, đã có những cuộc biểu tình phản kháng chế độ. Còn ở miền Bắc Việt Nam, từ năm 1954 trải qua cuộc cải cách ruộng đất đẫm máu cùng thời kỳ tem phiếu bao cấp đói khổ cùng cực, cho đến năm 1986 là hơn ba mươi năm, thành thị và làng quê tan hoang nhưng không có cuộc phản kháng nào xảy ra cả. Ở miền Nam, từ năm 1975 đến 1986 trải qua thời kỳ bao cấp quằn quại cũng gần 12 năm nhưng mọi thứ vẫn im ắng. Bởi vậy, sự nghèo đói không thể là động lực giúp dân chúng vượt qua sợ hãi để đứng lên, nếu không muốn nói là nó có thể làm kiệt quệ tinh thần phản kháng.
Vậy thì tại sao Miến Điện có một phong trào phản kháng mạnh mẽ như thế, còn chúng ta thì không? Có lẽ nếu muốn đơn giản hóa vấn đề, ta chỉ cần quy kết cho vận mệnh mỗi dân tộc. Nhưng dù sao trước tiên chúng ta hãy tự cho mình cơ hội suy nghĩ một chút về vấn đề này.
Người Miến Điện giữ được nội lực, Người Việt Nam thì đã mất nội lực
Từ trước khi bà Aung San Suu Kyi về nước năm 1988, những cuộc biểu tình lớn đã nổ ra; nhưng không thể phủ nhận sự tham gia và lãnh đạo của bà đối với Liên Đoàn quốc gia vì Dân chủ đã làm phong trào đấu tranh dân chủ Miến Miến có thêm sức mạnh và sự gắn kết. Nhận định và đánh giá cao vai trò của bà-con gái một vị anh hùng dân tộc trong việc kết nối mọi thành phần đấu tranh, các trưởng lão dày dạn kinh nghiệm đã mời bà tham gia và trở thành người lãnh đạo Liên đoàn cũng như phong trào đối lập, dù trước đó bà chưa có kinh nghiệm chính trị nào. Tôi thật sự khâm phục những con người khả kính này, những con người đã đặt quyền lợi dân tộc lên trên cái tôi hão huyền để có được một người lãnh đạo có uy tín, một biểu tượng của phong trào-điều mà những người đối lập ở Việt Nam chưa có được. Bởi, như một người bạn mà tôi quý trọng đã nói rằng : “những người hoạt động ở Việt Nam có một tâm lý rất lạ: một mặt họ chống lại lãnh đạo (hiểu theo nghĩa lãnh tụ), mặt khác họ hành xử đầy tính lãnh tụ”. Vậy là ngay từ bước đầu tiên này chúng ta đã không thể sánh với người Miến Điện; còn chuyện thế nào là lãnh đạo, thế nào là lãnh tụ và vai trò của người lãnh đạo, tôi xin được nói trong một bài khác.
Có một người lãnh đạo nhiều uy tín là một điều quan trọng, nhưng sẽ là vô ích nếu người dân không hưởng ứng. Điều tôi muốn nhấn mạnh ở đây, khi nói về sự lớn mạnh của phong trào phản kháng ở Miến Điện chính là cái NỘI LỰC của họ. Dù sợ hãi chế độ độc tài, người Miến Điện đã có được một thứ NỘI LỰC mà người Việt Nam không có. NỘI LỰC ấy nằm ở sức mạnh văn hóa.
Mặc dù dưới những năm cầm quyền của mình, Ne Win muốn học tập Trung Quốc, định hướng cho Miến Điện theo con đường XHCN. Nhưng nhìn chung Miến Điện không bị áp đặt một chủ thuyết nào lên toàn bộ hệ thống chính trị, xã hội, kinh tế. Chế độ cầm quyền ở đó là quân phiệt chứ không phải cộng sản như Việt Nam. Một chính thể độc tài không mang theo mình một chủ thuyết độc hại như chủ nghĩa cộng sản thì bản chất nó cũng gần giống với một nền quân chủ chuyên chế; nó có thể làm cho xã hội trì trệ và lạc hậu, nhân cách xuống cấp ở một mức độ nào đó nhưng ít ra nó không phá hủy triệt để những giá trị văn hóa truyền thống của xã hội, để thay vào đó là một loại văn hóa, loại mô hình xã hội bệnh hoạn, duy ý chí như trường hợp Việt Nam, Trung Quốc.
Ở Miến Điện, văn hóa, đạo đức và tôn giáo vẫn giữ được giá trị nội tại, đời sống văn hóa tinh thần của người dân vẫn nhân văn và thuần phác. Một nền luân lý Phật giáo đúng nghĩa đứng ở vị trí trung tâm trong đời sống tinh thần của họ. Như những nhà báo quốc tế ghi nhận thì, người dân Miến tuy sống nghèo khổ nhưng rất hiền lành, đa số họ thiền định mỗi ngày. Nghèo khổ và lạc hậu ở họ không đồng nghĩa với sự hèn nhát và sự xuống dốc về văn hóa và đạo đức. Chính vì giữ được sức mạnh tinh thần ấy, chính vì đứng trên cái trụ văn hóa nhân bản, trong đói khổ, đàn áp và sợ hãi, người dân Miến không ngừng phản kháng, đòi tự do, dân chủ.
Trái lại, dưới chế độ cộng sản Việt Nam, văn hóa, đạo đức và các truyền thống tôn giáo tốt đẹp đã gần như bị hủy hoại tận gốc rễ. Một xã hội hiện đại nửa mùa, một nền văn hóa mới theo kiểu Tây phương chưa xây dựng được (mà chỉ bắt chước người ta những thói xấu), còn cội nguồn văn hóa truyền thống thì đã biến thái thành những thứ quái dị. Những nhân đức hiền lành, chất phác, lòng yêu nước thiết tha biến thành những mánh mung, lừa đảo, vị kỷ. Một tôn giáo truyền thống từng góp phần to lớn xây dựng nên khí chất Việt Nam, bây giờ đã trở thành một thứ mê tín dị đoan. Đã mấy mươi năm sống dưới một chế độ độc tài hủy diệt văn hóa, bóp méo ý chí lành mạnh và làm thui chột năng lực tinh thần thì lúc đói khổ chúng ta chỉ lo miếng cơm, lúc sung túc chúng ta chỉ lo hưởng thụ. Mất cái gốc tinh thần (văn hóa, luân lý) chúng ta đang lâm vào một cuộc khủng hoảng nghiêm trọng về ý chí và nhân cách. Cái gốc của mọi hành động là tinh thần, ý chí yếu đuối, tinh thần bạc nhược, thì chẳng thể làm những việc lớn lao (nếu không có những điều kiện đột biến làm đòn bẩy).
Vì thế, giáo dục dân trí thông qua những luận bàn nghiêm túc về văn hóa (kể cả văn hóa chính trị), đạo đức, xã hội, chính trị… sẽ là cực kỳ cần thiết để vực dậy cái nội lực đã hư hao ấy; để chính sự phục hồi này, nếu không tạo được một biến cố cho sự đổi thay thì nó cũng giúp cho một thể chế tiến bộ trong tương lai dễ vận hành hơn. Và như John Stuart Mill đã nói: “Một dân chúng có thể còn chưa sẵn sàng cho một thiết chế tốt đẹp, nhưng việc nhen nhóm lên lòng mong ước có được thiết chế ấy phải là phần việc cần thiết cho sự chuẩn bị”. Văn hóa suy đồi, tinh thần khiếp nhược chính là những thứ chúng ta phải chung tay từng giờ để tháo gỡ, hầu mang lại một nội lực mới cho dân tộc. Có nội lực ấy rồi, không những chúng ta có thể dễ dàng xóa bỏ chế độ độc tài, mà còn có thể tiến vào chế độ dân chủ tự do không chút trở ngại.
Sài Gòn, ngày 25 tháng 5 năm 2012
Huỳnh Thục Vywww.vietthuc.org
Chiến Dịch Thỉnh Nguyện Thư Hoàn Tất
Bước Tiếp Theo Trên Hành Trình Vận Động Nhân Quyền Cho Việt Nam
. Ts. Nguyễn Đình Thắng
Ngày 20/04/2012
Hôm nay, qua Phụ Tá Ngoại Trưởng Michael Posner, Giám Đốc Vụ Dân Chủ, Nhân Quyền và Lao Động của Bộ Ngoại Giao, Toà Bạch Ốc chính thức trả lời thỉnh nguyện thư của trên 150 nghìn người Mỹ gốc Việt. Vậy là chiến dịch thỉnh nguyện thư đã chính thức hoàn tất. Cộng đồng người Việt ở Hoa Kỳ nay cần tập trung thực hiện bước kế tiếp trên hành trình dài lâu để tranh đấu nhân quyền cho Việt Nam.
Về thỉnh nguyện thư, chúng ta đã chu toàn các mục tiêu đưa ra từ ban đầu: (1) tạo sự quan tâm của Hành Pháp Obama đến nguyện vọng của tập thể người Mỹ gốc Việt về nhân quyền cho Việt Nam; (2) yêu cầu chính quyền Hoa Kỳ vận dụng cuộc thương thảo về mậu dịch để đòi hỏi chính quyền Việt Nam trả tự do cho tất cả tù chính trị, tôn giáo và lương tâm; và (3) kêu gọi Hành Pháp Obama tiếp tục hội ý tập thể người Mỹ gốc Việt về các chính sách liên quan đến Việt Nam. Văn thư trả lời của Ông Posner ghi nhận tất cả các điểm này.
Trong bước kế tiếp, chúng ta cần cung cấp thông tin cập nhật và đôn đốc Bộ Ngoại Giao và Văn Phòng Đại Diện Mậu Dịch của Toà Bạch Ốc gia tăng áp lực lên chính quyền Việt Nam. Trong chiều hướng này, chúng tôi đã thực hiện những việc sau đây trong 6 tuần qua:
(1) Họp riêng với Vụ Dân Chủ, Nhân Quyền và Lao Động của Bộ Ngoại Giao ngày 23 tháng 3.
(2) Họp riêng với Văn Phòng Theo Dõi và Chống Buôn Người của Bộ Ngoại Giao ngày 13 tháng 4.
(3) Yểm trợ tổ chức Montagnard Human Rights Organization cho buổi tiếp xúc của họ với Bộ Ngoại Giao, Văn Phòng Đại Diện Mậu Dịch và Bộ Quốc Phòng trong hai ngày 16 và 17 tháng 4.
(4) Hẹn họp với Vụ Dân Chủ, Nhân Quyền và Lao Động của Bộ Ngoại Giao lần nữa, ngày 1 tháng 5 tới đây.
(5) Cung cấp thông tin cho bản phúc trình năm 2012 vừa được công bố bởi Uỷ Hội Hoa Kỳ về Tự Do Tôn Giáo Quốc Tế.
(6) Phối hợp và hướng dẫn đồng hương ở mỗi địa phương vận động các dân biểu và thượng nghị sĩ lên tiếng với Bộ Ngoại Giao để yểm trợ cho tiếng nói của chúng ta.
(7) Vận động Hạ Viện thông qua hai đạo luật về nhân quyền cho Việt Nam: HR 1410 và HR 156.
(8) Thành lập ban nghiên cứu để thường xuyên cập nhật thông tin về vi phạm nhân quyền ở Việt Nam cho các giới chức Lập Pháp và Hành Pháp Hoa Kỳ.
Riêng trong nỗ lực vận động Quốc Hội, chúng tôi đã thảo thư mẫu và hướng dẫn số đồng hương tham gia cuộc vận động ở Quốc Hội ngày 6 tháng 3 để tiếp tục kêu gọi sự quan tâm của các dân biểu và thượng nghị sĩ của họ. Nhiều vị dân biểu và thượng nghị sĩ đã gởi văn thư cho Bộ Ngoại Giao để yểm trợ cho tiếng nói của chúng ta; Bộ Ngoại Giao đã hồi âm cho một số vị dân cử. Đặc biệt Dân Biểu John Conyers (Dân Chủ, Michigan) đã cử vị Chánh Văn Phòng đến Đà Nẵng để nêu vấn đề Xứ Đạo Cồn Dầu.
Chúng tôi đang phối hợp với hai tổ chức Hmong National Development và The Long Walk for Freedom để vận động thêm sự hợp tác của cộng đồng người Hmong ở Hoa Kỳ, nhất là quanh vấn đề đàn áp đồng bào Hmong ở vùng Điện Biên.
Nội trong một, hai tuần tới đây Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ sẽ công bố bản phúc trình về tình trạng nhân quyền trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Chúng ta cần chuẩn bị để phân tích bản phúc trình này và sẵn sàng lên tiếng, trực tiếp với Bộ Ngoại Giao và qua các vị dân cử, nếu có những điểm sai, sót. Chúng ta cũng phải sẵn sàng như vậy đối với bản phúc trình về buôn người mà Bộ Ngoại Giao sẽ công bố vào giữa tháng 6 tới đây.
Để yểm trợ cho bước vận động kế tiếp này, vấn đề thông tin đều đặn cho các giới chức Lập Pháp và Hành Pháp Hoa Kỳ trở thành vô cùng quan trọng. Quan trọng không kém là nâng khả năng phối hợp trong công tác vận động của những người thành tâm thiện chí ở các địa phương để cùng nhau đẩy mạnh và xa bước kế tiếp này.
Đối phó với cuộc vận động ồ ạt của tập thể người Việt ở Hoa Kỳ, trong thời gian vừa qua chính quyền Việt Nam một mặt đã cùng lúc đánh hoả mù trong cộng đồng người Việt ở hải ngoại và đối với chính giới Hoa Kỳ. Chẳng hạn, ngày hôm nay họ chi tiền chạy quảng cáo trên báo The Hill, một tờ báo lưu hành ở Quốc Hội Hoa Kỳ, nhằm đánh bóng chế độ và chống Đạo Luật Nhân Quyền Cho Việt Nam (HR 1410).
Tuy nhiên họ không có thế đứng của công dân hay cư dân Hoa Kỳ mà chỉ là tiếng nói ngoại lai. Bằng cách phát huy thế đứng của mình, chúng ta sẽ bẻ gãy được những nỗ lực chống trả của họ.
Trong thời gian tới đây chúng tôi sẽ tiếp tục phổ biến thông tin cập nhật về bước kế tiếp. Chúng tôi cũng sẽ có bài tổng kết và rút kinh nghiệm của bước vận động vừa qua.
Việt Vùng Vịnh
Cuộc bầu cử quốc hội bổ sung của Miếnđiện diễn ra hôm Chủ Nhật, ngày 01/04/2012, đảng đối lập: Liên Đoàn Quốc Gia Vì Dân Chủ – NLD, do khôi nguyên hòa bình, bà Aung San Suu Kyi lãnh đạo, đã giành thắng lợi áp đảo, với 43 ghế dân biểu trong số 44 ghế bầu bổ khuyết. Tại đơn vị bầu cử Kahwmu, ngoại ô Rangoon, riêng Bà Suu Kyi đã đắc cử với 99% số phiếu. Điều này nói lên là tuyệt đại đa số cử tri Miếnđiện đã đặt tin tưởng trọn vẹn vào người phụ nữ ưu việt này. Bà nói: “Đây là chiến thắng của toàn dân – những người đã quyết định họ phải tham gia vào tiến trình chính trị của đất nước – hơn là chiến thắng của chúng tôi”. Trong bài diễn văn chào mừng chiến thắng ngắn gọn bà Aung San Suu Kyi bày tỏ: “Chúng tôi hy vọng rằng, đây là sự khởi đầu của Thời Đại Mới, nhấn mạnh hơn tới vai trò của người dân trong tiến trình chính trị thường nhật của đất nước. Chúng tôi cũng hy vọng rằng, chúng tôi có thể tiến xa hơn trên con đường tiến tới tiến trình hoà giải dân tộc. Chúng tôi sẽ hoan nghênh tất cả các đảng muốn cùng tham gia với chúng tôi, trong tiến trình mang lại hoà bình và thịnh vượng cho đất nước”.
Tham dự Hội Nghị Thượng Đỉnh Asean, trong phiên khai mạc ngày 03/04/12, Tổng thống Miến Điện Thein Sein ca ngợi: “Bầu cử đã thành công một cách tốt đẹp”. Với tư cách chủ tịch luân phiên của Asean nhiệm kỳ 2012, Campuchia đã nhanh chóng nhấn mạnh đến yếu tố “tự do và công bằng” của cuộc bỏ phiếu tại Miến Điện. Dự thảo Tuyên Bố Chung Asean đã hoan nghênh diễn tiến bầu cử tại Miếnđiện, và ngay trong cuộc họp sáng nay, Asean đã kêu gọi Quốc Tế bãi bỏ lệnh trừng phạt thành viên Miến Điện. Hoakỳ và Liên Âu hoan nghênh chuyển biến tại Miếnđiện. Từ Washington, phát ngôn viên bộ ngoạ igiao Mỹ, Victoria Nuland nói: “Chúng tôi sẵn sàng đáp ứng những bước đi cải cách ở Miếnđiện bằng những bước đi tương hợp”. Phát ngôn viên Liên Âu – EU, Maja Kocijancic nói: “Các ngoại trưởng sẽ thừa nhận những thay đổi và sẽ có tín hiệu tích cực từ Hội Đồng Châu Âu”.
Một quan sát viên quốc tế về Miến Điện, ông Larry Jagan nói: “Tôi nghĩ rằng, có một điều rất đáng chú ý là các nhà lãnh đạo và các vị ngoại trưởng cùa Asean đã cảm thấy hả hê trước kết quả cuộc bầu cử Miến Điện. Nhiều người trong số này nói rằng: Chúng tôi đã thực sự thúc đẩy Miến Điện tiến tới dân chủ. Họ cho rằng, họ là người có công đối với những thay đổi đang diễn ra và sự thành công của cuộc bầu cử bổ túc. Tôi nghĩ rằng, với mức độ nào đó, Miếnđiện trước đây là một yếu tố gây xấu hổ cho Asean, nhưng bây giờ Miếnđiện là một sự thành công sáng chói. Vì tôi nghĩ rằng, đây là một tin rất tốt cho Asean và cho hầu hết các nước trong khu vực”. Chẳng biết Nguyễn Tấn Dũng của Việt Cộng có trong số này hay không? Nếu nhớ không lầm, thì trong chuyến công du Miếnđiện gần đây, Nguyễn Tấn Dũng thủ tướng Việt cộng cũng có khuyên Miến Điện “làm dân chủ”. Trong khi đó, những người đòi Dân Chủ ở Việt Nam thì vẫn bị ghép vào cái tội quái gở để bỏ tù là “lợi dụng tự do dân chủ để chống nhà nước” cộng sản độc tài toàn trị. Thực chất, chế độ Việt cộng chết tiệt này, làm gì có một chút mảy may tự do dân chủ nào đâu để mà lợi dụng kia chứ!
Xem ra trong 9 nước còn lại trong khối Asean, nhiều nước về mặt chính trị vẫn còn phải học bài học Dân Chủ Hoá của Miến Điện. Miến Điện đã thực sự tôn trọng đối lập, thả hết tù chính trị, cho báo tuần được tự do, tin tưởng vào sự phán đoán, lựa chọn của dân chúng qua bầu cử. Tuy nhiên báo ngày vẫn còn nằm trong tay chính phủ, và 25% số ghế quốc hội trong cuộc bầu cử năm 2010 đã dành cho quân đội chọn trong số quân nhân hiện dịch, dù đảng Đoàn Kết Thống Nhất và Phát Triển – USDP, hậu thân của nhóm Quân Phiệt trước đây chiếm 76% số ghế ở Hạ viện gồm 440 ghế, Thượng viện gồm 224 ghế, và 14 nghị viên khu vực. Đây là một nhược điểm của nhóm cựu quân nhân còn chưa dám tin vào nền Dân Chủ Trọng Pháp, mà họ buộc phải tiến tới. Họ run sợ trước sự trả thù của dân chúng. Nhưng nước Miến Điện đã may mắn có được nhà lãnh đạo đối lập ưu việt có tầm vóc quốc tế là bà Aung San Suu Kyi, và một nhà lãnh đạo chính quyền sáng suốt quyết đoán, tổng thống Thein Sein. Họ đều thể hiện là đã thấm nhuần tinh thần từ bi, trí tuệ, tự do, tự chủ, hỷ xả, vô chấp, bao dung, trách nhiệm, can đảm dấn thân vì đời, cứu nước, giúp dân của truyền thống nhà Phật trong người họ. Nên họ tin ở nhau, để bắt tay dựng lại ngôi nhà Miến Điện đã bị chế độ Quân Phiệt đẩy xuống tận cùng khốn khó.
Cả hai đều biết rằng chỉ có dân chú hóa chế độ mới đưa Miến Điện thoát khỏi đói nghèo và lún sâu vào tay Trung Cộng. Nhưng dù bà Aung san Suu Kyi đang được toàn dân kính yêu tin tưởng, quốc tế coi đó là một bảo chứng cho nền dân chủ phôi thai. Ông Thein Sein có nắm vững được thế lực quân nhân, để không xẩy ra nạn lạm quyền, tham nhũng, tranh chấp, thì 2 cá nhân khả kính đó cũng chỉ là những con người mong manh, chỉ là những người mở đường một tiến trình xây dựng lâu dài cho đất nước. Chứ đất nước, và dân chúng chẳng thể mãi mãi núp bóng ở những cá nhân đó, mà chính quyền và đối lập phải nhịp nhàng cùng phối họp, tạo điều kiện cho dân chúng tự ý thức được quyền tự do của mình qua sự tự chủ của mỗi người, để có trách nhiệm chung xây dựng Cuộc Sống Người toàn diện cả về các mặt Văn hóa, Chính trị, Xã hội, Kinh tế, và Luật pháp… của một Quốc Gia trong tiến trình Toàn Cầu Hóa và Dân Chủ Hoá Toàn Cầu của thời đại, là do chính mỗi người chủ động thể hiện ra ngay trong cuộc sống thường ngày của mình giữa xã hội mình sống.
Đành rằng, nói tới nền Dân Chủ là chế độ phải có Tam Quyền Phân Lập: Lập Pháp , Hành Pháp, Tư Pháp. Đa Nguyên, Đa Đảng. Xã Hội Dân Sự Tự Do. Truyền Thông Tư Nhân Tự Do được Hiến Pháp và Luật Pháp bảo vệ mọi quyền con người, quyền sống, quyền tư hữu tinh thần và vật chất, quyền tự do tín ngưỡng và quyền phát biểu ý kiến, và các quyền công dân khác như ứng cử và bầu cử tự do… Nhưng để thực hiện trực tiếp các quyền đó, đối với mỗi người dân thì môi trường gần cận nhất là ở ngay Làng Xã, hoặc Thị Xã của mình. Nên đơn vị Hành Chánh gốc của Quốc Gia là Làng Xã ở nông thôn, Thị Xã ở tỉnh thành cần áp dụng một chế độ Làng Xã Tự Quản, tức là nền Dân Chủ Đáy Tầng, hay gọi là nền Cộng Hoà Trực Tiếp. Xã Trưởng và Hội Đồng Xã do Công Dân trong làng ứng cứ và bầu cử ra. Họ hiểu rõ nhau. Để người dân ý thức thực tế và nắm chắc là mình đang làm chủ vận mệnh của chính mình qua việc lựa chọn trao quyền cho người đại diện của mình, làm công việc quản trị Làng Xã thay cho mình, theo Hiến Pháp, Luật Pháp, và do chính mỗi người dân phải theo dõi. Làng Xã không còn phải làm theo chỉ thị chủ quan phi pháp của thượng cấp như từ xưa nay. Mà mỗi cấp đều phải tuân thủ đúng luật pháp và quyền hạn mà luật pháp cho phép. Chỉ có như thế, chế độ Dân Chủ mới mau phổ cập và bền vững.
LÝ ĐẠI NGUYÊN – Little Saigòn ngày 03/04/2012
![]() |
| AFP PHOTO Linh mục Nguyễn Văn Lý tại phiên xử ở Thừa Thiên Huế hôm 30-3-2007. |
Đại Hội Quốc Tế Học năm 2012 do Tổ chức International Studies Association, gọi tắt là ISA, là một tổ chức hàng đầu trong lãnh vực quốc tế học, chủ trì. Tổ chức ISA này có hơn 5000 thành viên tại hơn 30 quốc gia và là thành viên của Hội Đồng Xã Hội Học Thế Giới. ISA cũng đóng vai trò cố vấn cho Liên Hiệp Quốc. Qua đề tài “Người Việt và Việt Nam” được tổ chức năm nay, tiếng nói của người Việt và quá trình dân chủ hóa ở Việt Nam sẽ như thế nào? Hòa Ái tổng hợp thông tin và trình bày trong phần sau.
Không có quyền công dân
Việt Nam, một đất nước hơn 85 triệu dân, với thể chế “độc lập-tự do-dân chủ”, nhưng thực tế cho thấy những người dân đang sống dưới thể chế này không thụ hưởng được quyền công dân có tự do dân chủ thực sự. Những suy nghĩ, ưu tư của người dân về vận mệnh đất nước không được tôn trọng. Những ý kiến đóng góp, xây dựng xã hội không được ghi nhận. Những lời kêu cứu của dân oan không được đáp trả. Những tiếng nói bất đồng chính kiến bị đàn áp. Những tố cáo về tham nhũng, sai trái của quan chức bị trù dập. Những tư tưởng đấu tranh ôn hòa bị bắt bớ, giam cầm.
Trong khi những vấn đề người dân ưu tư với vận mệnh của tổ quốc là quan tâm nhiều nhất, thì gần như những đề tài như vậy lại thiếu vắng ở trên báo chính thống.Blogger Uyên Vũ
Chính quyền Việt Nam tự hào có tự do ngôn luận với khoảng 700 tờ báo cùng hơn 60 đài phát thanh và truyền hình trong thời đại thông tin hiện đại của thể kỷ 21 này. Nhưng với những con số đáng kể của ngành truyền thông, rõ ràng không minh chứng cho một nền dân chủ thật sự. Bộ Thông Tin Truyền Thông và Ban Văn Hóa Tư Tưởng quản lý tất cả các cơ quan ngôn luận chính thống phải thực hiện nhiệm vụ là “tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước đến nhân dân”. Trong khi đó, hiện Việt Nam có 35% dân số sử dụng internet và có khoảng 20% trong số đó tương đương với 6 triệu công dân có blog cá nhân.
Không ít trong số blog cá nhân này quan tâm đến những nguồn thông tin chứa đựng những nhận xét, bình luận, những phân tích và tranh luận có giá trị. Đây là chia sẻ của blogger Uyên Vũ:
“Theo tôi thì thấy gần đây khi mà phong trào viết blog và những báo chí, đại khái gọi là lề phải đó mà, thì có những sự tương phản rất là thú vị và phải nói hơi khá là đau lòng. Trong khi những vấn đề người dân ưu tư với vận mệnh của tổ quốc là quan tâm nhiều nhất, thì gần như những đề tài như vậy lại thiếu vắng ở trên báo chính thống. Trong khi đó lại được thể hiện rất là nhiều trên những blog của người Việt. Và tôi nhìn thấy thêm một điều thú vị nữa là có một số nhà báo, sau khi họ không được thể hiện quan điểm của họ trên báo chí thì họ lại thể hiện trên những blog cá nhân. Điều đó tự nó đã mang lại ý nghĩa là xứ này có tự do báo chí hay không.”
“Theo tôi thì thấy gần đây khi mà phong trào viết blog và những báo chí, đại khái gọi là lề phải đó mà, thì có những sự tương phản rất là thú vị và phải nói hơi khá là đau lòng. Trong khi những vấn đề người dân ưu tư với vận mệnh của tổ quốc là quan tâm nhiều nhất, thì gần như những đề tài như vậy lại thiếu vắng ở trên báo chính thống. Trong khi đó lại được thể hiện rất là nhiều trên những blog của người Việt. Và tôi nhìn thấy thêm một điều thú vị nữa là có một số nhà báo, sau khi họ không được thể hiện quan điểm của họ trên báo chí thì họ lại thể hiện trên những blog cá nhân. Điều đó tự nó đã mang lại ý nghĩa là xứ này có tự do báo chí hay không.”
Những người không tổ quốc
Những tiếng nói này sẽ chỉ gói gọn trong đất nước hình chữ “S” mà họ đang sinh sống hay không? Còn có một cộng đồng người Việt không nhỏ đang sinh sống ở Biển Hồ, Campuchia, nơi mà những người Việt này chưa ngút tầm mắt là mảnh đất cố hương. Nhưng, họ không phải là “Việt kiều”, họ cũng không phải là công dân của đất nước Chùa Tháp xinh đẹp.
![]() |
| Người Việt Nam sống ở Tolle Sap - Campuchia, ảnh chụp trước đây. Photo by Benjamin Vũ. |
Họ là người không có tổ quốc, không mang quốc tịch của một quốc gia nào. Cuộc sống của họ từ thế hệ này sang thế hệ khác trôi nổi theo con nước trên vùng Biển Hồ. Có phải tiếng nói của những người Việt này sẽ bị chôn vùi ở Tolle Sap, Cam puchia? Nhà báo tự do-nhiếp ảnh gia Benjamin Vũ cho biết rất khó khăn để được chính phủ Campuchia cho phép tiếp cận với cộng đồng người Việt ở đây. Anh Benjamin Vũ nói:
“Cái lý do là vì chính mình nhìn thấy được những cảnh đó còn tội nghiệp hơn là những người ở Việt Nam. Vì tại Việt Nam, họ còn có cơ hội, họ còn làm được tiền, họ còn xin được giấy tờ đi qua đi lại. Nhưng mà những người tại Biển Hồ hầu như là những người không tổ quốc, lại không có một chổ nào chứng nhận họ là người Việt Nam. Ben có hứa với họ là với mọi khả năng trong sự hiểu biết của mình là bằng cách mình phổ biến những tin tức này.”
Những tiếng nói của những nạn nhân của tệ nạn buôn người trá hình dưới hình thức xuất khẩu lao động sẽ bị đè bẹp nơi những nhà máy, công xưởng bốc lột sức lao động, phải làm việc như những nô lệ? Hay những “cô dâu” Việt lấy chồng xa xứ phải nén tiếng khóc than cho một phận má hồng? Một “cô dâu” Việt lấy chồng xa xứ cho biết:
“Không có hạnh phúc. Tại vì thương con quá, bỏ không nổi. Khi xỉn về kiếm chuyện. Kiểu như chuyện quá đáng quá thì mình lên tiếng. Lên tiếng thì bị đánh. Muốn về Việt Nam ở thì khó lòng quá. Khi mà về bển, bỏ con ở bển thì phải qua đây mới có tiền nuôi. Còn nếu mình về bển, bỏ con bên này, sống vậy thì đỡ hơn, có cái sợ nhớ con.”
Làn sống di dân mới từ Việt Nam qua các nước trung gian Đông Âu, rồi chuyển sang các nước Tây Âu trong những đường dây buôn người có tổ chức xuyên quốc gia, Bà Trang Đài Glassey-Trần Nguyễn, nhà nghiên cứu về cộng đồng Việt Nam hải ngoại cho biết:
“Cái lý do là vì chính mình nhìn thấy được những cảnh đó còn tội nghiệp hơn là những người ở Việt Nam. Vì tại Việt Nam, họ còn có cơ hội, họ còn làm được tiền, họ còn xin được giấy tờ đi qua đi lại. Nhưng mà những người tại Biển Hồ hầu như là những người không tổ quốc, lại không có một chổ nào chứng nhận họ là người Việt Nam. Ben có hứa với họ là với mọi khả năng trong sự hiểu biết của mình là bằng cách mình phổ biến những tin tức này.”
Những tiếng nói của những nạn nhân của tệ nạn buôn người trá hình dưới hình thức xuất khẩu lao động sẽ bị đè bẹp nơi những nhà máy, công xưởng bốc lột sức lao động, phải làm việc như những nô lệ? Hay những “cô dâu” Việt lấy chồng xa xứ phải nén tiếng khóc than cho một phận má hồng? Một “cô dâu” Việt lấy chồng xa xứ cho biết:
“Không có hạnh phúc. Tại vì thương con quá, bỏ không nổi. Khi xỉn về kiếm chuyện. Kiểu như chuyện quá đáng quá thì mình lên tiếng. Lên tiếng thì bị đánh. Muốn về Việt Nam ở thì khó lòng quá. Khi mà về bển, bỏ con ở bển thì phải qua đây mới có tiền nuôi. Còn nếu mình về bển, bỏ con bên này, sống vậy thì đỡ hơn, có cái sợ nhớ con.”
Làn sống di dân mới từ Việt Nam qua các nước trung gian Đông Âu, rồi chuyển sang các nước Tây Âu trong những đường dây buôn người có tổ chức xuyên quốc gia, Bà Trang Đài Glassey-Trần Nguyễn, nhà nghiên cứu về cộng đồng Việt Nam hải ngoại cho biết:
Về vấn đề học thuật. Khi người ta nói đến vấn đề dân chủ hóa, những thay đổi về dân chủ trên thế giới hiện nay thì người ta sẽ nhớ đến Việt Nam.
Glassey-Trần Nguyễn
“Những cơ cực và những nhọc nhằn về tình trạng sống bất hợp pháp. Người đi trong tình trạng như vậy, tức là họ di dân bất hợp pháp, nhờ vào những đường dây buôn người, họ có rất nhiều cái khổ. Tại vì thứ nhất là họ luôn luôn canh cánh lo sợ bị phát hiện và công an bắt. Thứ hai là họ sợ những người trong đường dây buôn người đó sẽ đòi tiền thêm. Coi như là thường xuyên những cô gái lúc nào cũng bị hãm hiếp hết.”
Tiếng nói của những nạn nhân này sẽ bị tắt nghẽn một khi họ bị quăng ra khõi những xe container chở hàng bít bùng một cách không thương tiếc xuống những đường phố tráng lệ ở Paris, ở Luân Đôn hay không?
Tiếng nói của những nạn nhân này sẽ bị tắt nghẽn một khi họ bị quăng ra khõi những xe container chở hàng bít bùng một cách không thương tiếc xuống những đường phố tráng lệ ở Paris, ở Luân Đôn hay không?
Tiếng nói người Việt Nam
Tất cả những tiếng nói này sẽ không bị hạn hẹp trong một khuôn khổ không gian và thời gian nhất định. Những tiếng nói này sẽ được lan rộng ra khắp mọi nơi trong thời đại công nghệ thông tin và trào lưu dân chủ nhân quyền đang lan tỏa khắp nơi trên thế giới.
Blogger Uyên Vũ dù gặp nhiều khó khăn trở ngại với chính quyền, nhưng vẫn xác định tiếp tục thể hiện quan điểm của mình:
Blogger Uyên Vũ dù gặp nhiều khó khăn trở ngại với chính quyền, nhưng vẫn xác định tiếp tục thể hiện quan điểm của mình:
“Khi mà chứng kiến xã hội chung quanh mình, tôi nghĩ tôi có những quan điểm. Và quan điểm đó có thể được đông người ủng hộ hoặc cũng có thể làm mất lòng một số cá nhân nào đó. Tôi chỉ biết nêu lên những ưu tư, những bức xúc của cá nhân tôi. Và tôi tìm cách thể hiện bằng những bài viết. Thì rõ ràng tôi cho rằng đây là một xu thế hợp thời đại và tôi cũng cảm thấy mình rất là may mắn sống trong thời đại internet đã biến toàn cầu trở thành gần gũi. Mọi tiếng nói, mọi quan điểm rất dễ được chia sẻ và rất dễ được sự cảm thông hoặc là những phản hồi.”
Ông Huỳnh Ngọc Tuấn, một người đấu tranh ôn hòa ở Việt Nam dù phải chịu tù tội nhưng vẫn không nản lòng trên bước đường đấu tranh cho tự do dân chủ:
“Tôi sẽ tiếp tục đấu tranh để cải thiện tình hình Việt Nam và thay đổi Việt Nam để Việt Nam trở thành một quốc gia dân chủ, pháp trị và mọi người trong đó có những người cộng sản và gia đình của họ được sống trong một xã hội bình đẳng, một xã hội ổn định, văn minh và nhân quyền được tôn trọng. Đó là mục tiêu tôi sẽ theo đuổi suốt đời.”
Những tiếng nói của người Việt hải ngoại sẽ nói gì ở Đại Hội Quốc Tế Học năm 2012 này?
Nhà báo tự do Benjamin Vũ:
“Dùng những tiếng nói của người Việt hải ngoại để cho thế giới công nhận lại những người này không phải là họ không có quê hương, nhưng họ không có cơ hội nhập vô một quốc tịch nào đó. Là đang muốn giúp những người Việt không tổ quốc, những người Việt lưu vong sống tại những nước sở tại như Ba Lan chẳng hạn, hay là Campuchia để họ có một quốc tịch nào đó, để họ có cơ hội sinh sống, để họ có một công việc để nuôi gia đình thay vì lúc nào cũng phải như là một người vô gia cư.”
Một thanh niên người Mỹ gốc Việt tên Tri cất lên tiếng nói về tự do tôn giáo và tự do dân chủ cho Việt Nam:
Ông Huỳnh Ngọc Tuấn, một người đấu tranh ôn hòa ở Việt Nam dù phải chịu tù tội nhưng vẫn không nản lòng trên bước đường đấu tranh cho tự do dân chủ:
“Tôi sẽ tiếp tục đấu tranh để cải thiện tình hình Việt Nam và thay đổi Việt Nam để Việt Nam trở thành một quốc gia dân chủ, pháp trị và mọi người trong đó có những người cộng sản và gia đình của họ được sống trong một xã hội bình đẳng, một xã hội ổn định, văn minh và nhân quyền được tôn trọng. Đó là mục tiêu tôi sẽ theo đuổi suốt đời.”
Những tiếng nói của người Việt hải ngoại sẽ nói gì ở Đại Hội Quốc Tế Học năm 2012 này?
Nhà báo tự do Benjamin Vũ:
“Dùng những tiếng nói của người Việt hải ngoại để cho thế giới công nhận lại những người này không phải là họ không có quê hương, nhưng họ không có cơ hội nhập vô một quốc tịch nào đó. Là đang muốn giúp những người Việt không tổ quốc, những người Việt lưu vong sống tại những nước sở tại như Ba Lan chẳng hạn, hay là Campuchia để họ có một quốc tịch nào đó, để họ có cơ hội sinh sống, để họ có một công việc để nuôi gia đình thay vì lúc nào cũng phải như là một người vô gia cư.”
Một thanh niên người Mỹ gốc Việt tên Tri cất lên tiếng nói về tự do tôn giáo và tự do dân chủ cho Việt Nam:
Những người tại Biển Hồ hầu như là những người không tổ quốc, lại không có một chổ nào chứng nhận họ là người Việt Nam.
Benjamin Vũ
“Tri cũng có biết là có nhiều người ở Việt Nam muốn thay đổi về tình hình tự do dân chủ và tự do tôn giáo (religion). Tại vì, Tri nghĩ là mỗi con người và đất nước cũng như là người dân của đất nước, bất cứ nước nào phải có tự do đó và cả người Việt Nam của chúng ta luôn.”
Bà Kim-Trang Đặng, Phó Chủ Tịch Cộng Đồng Việt Nam San Diego cho biết:
“Chúng tôi có mục đích rằng là làm sao có thể đưa hệ thống internet, facebook, dùng những hệ thống đó chuyển đạt đến tất cả người Việt Nam hiểu được vấn đề dân chủ đang có hiện tại ở ngoài thế giới. Bằng cách thông đạt như vậy, người Việt Nam ở quê hương mình mới hiểu được rõ thêm vấn đề dân chủ như thế nào. Hoặc là những tin tức gì ở Việt Nam có thể cần đưa ra bên ngoài hoặc bên ngoài đưa vào trong nước, để mọi người học hỏi thêm lên được, hội nhập thêm những sự tân tiến, để có thể thay đổi xã hội của mình khá hơn lên.”
Nhà nghiên cứu Trang Đài Glassey-Trần Nguyễn nhận định như sau:
“Khi đưa vấn đề Việt Nam ra như vậy thì hy vọng sẽ có hai ảnh hưởng chính. Cái thứ nhất là về vấn đề học thuật. Khi người ta nói đến vấn đề dân chủ hóa, những thay đổi về dân chủ trên thế giới hiện nay thì người ta sẽ nhớ đến Việt Nam và người ta sẽ quan tâm và tìm hiểu thêm cũng như là bàn luận thêm về vấn đề dân chủ ở Việt Nam. Và khi nhiều người quan tâm hơn, bàn luận hơn thì chuyện đó sẽ lan ra. Về cộng đồng, những người ra những chỉ thị hay những người có liên quan đến các bộ máy chính quyền, nếu họ quan tâm đến vấn đề Việt Nam và có thêm một thông tin nào đó về vấn đề dân chủ ở Việt Nam thì sẽ giúp ích rất là nhiều cho vấn đề vận động dân chủ ở Việt Nam”
Đại Hội Quốc Tế Học năm 2012 với đề tài “Người Việt và Việt Nam” được xem như là một bước tiến lịch sử trong tiến trình dân chủ hóa cho Việt Nam. Tiếng nói của người Việt sẽ có chiều kích ở tầm quốc tế, vận động mọi sắc tộc trên thế giới để giúp cho quá trình tự do dân chủ này phải thành hiện thực trong xu hướng chung của thế giới. Đây là điều hiển nhiên.
Bà Kim-Trang Đặng, Phó Chủ Tịch Cộng Đồng Việt Nam San Diego cho biết:
“Chúng tôi có mục đích rằng là làm sao có thể đưa hệ thống internet, facebook, dùng những hệ thống đó chuyển đạt đến tất cả người Việt Nam hiểu được vấn đề dân chủ đang có hiện tại ở ngoài thế giới. Bằng cách thông đạt như vậy, người Việt Nam ở quê hương mình mới hiểu được rõ thêm vấn đề dân chủ như thế nào. Hoặc là những tin tức gì ở Việt Nam có thể cần đưa ra bên ngoài hoặc bên ngoài đưa vào trong nước, để mọi người học hỏi thêm lên được, hội nhập thêm những sự tân tiến, để có thể thay đổi xã hội của mình khá hơn lên.”
Nhà nghiên cứu Trang Đài Glassey-Trần Nguyễn nhận định như sau:
“Khi đưa vấn đề Việt Nam ra như vậy thì hy vọng sẽ có hai ảnh hưởng chính. Cái thứ nhất là về vấn đề học thuật. Khi người ta nói đến vấn đề dân chủ hóa, những thay đổi về dân chủ trên thế giới hiện nay thì người ta sẽ nhớ đến Việt Nam và người ta sẽ quan tâm và tìm hiểu thêm cũng như là bàn luận thêm về vấn đề dân chủ ở Việt Nam. Và khi nhiều người quan tâm hơn, bàn luận hơn thì chuyện đó sẽ lan ra. Về cộng đồng, những người ra những chỉ thị hay những người có liên quan đến các bộ máy chính quyền, nếu họ quan tâm đến vấn đề Việt Nam và có thêm một thông tin nào đó về vấn đề dân chủ ở Việt Nam thì sẽ giúp ích rất là nhiều cho vấn đề vận động dân chủ ở Việt Nam”
Đại Hội Quốc Tế Học năm 2012 với đề tài “Người Việt và Việt Nam” được xem như là một bước tiến lịch sử trong tiến trình dân chủ hóa cho Việt Nam. Tiếng nói của người Việt sẽ có chiều kích ở tầm quốc tế, vận động mọi sắc tộc trên thế giới để giúp cho quá trình tự do dân chủ này phải thành hiện thực trong xu hướng chung của thế giới. Đây là điều hiển nhiên.
RFA
Câu hỏi tưởng đơn giản và sơ đẳng, nhưng lại rất liên quan và mang tính thời sự ở Việt Nam, nhất là vấn đề Hoàng Sa – Trường Sa. Câu hỏi có phần khó khăn hơn trong lĩnh vực khoa học xã hội và sử học. Người viết bài này dĩ nhiên là “dân ngoại đạo” hai ngành đó, nhưng cũng muốn có vài ý kiến xuất phát từ quan điểm của khoa học thực nghiệm.
Dư luận xôn xao sau bài nói chuyện của Gs Ts Nguyễn Quang Ngọc về “Vấn đề Chủ quyền của Việt Nam ở Trường Sa và Hoàng Sa”. Có ý kiến cho rằng đó không phải là “nghiên cứu khoa học”, mà chỉ là cóp nhặt những tư liệu lịch sử và trình bày lại cho một cử toạ gồm những người quan tâm đến vấn đề. Trước đó (18/6/2011) Gs Ngọc còn có một bài viết trên Tuần Việt Namvới tựa đề “Bằng chứng lịch sử chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa, Trường Sa” nhưng với câu kết như sau:
“Chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa và Trường Sa là một trong những trang đẹp nhất, bi hùng nhất của lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam ta, mà bất cứ người Việt Nam chân chính nào cũng cần phải biết trân trọng và gìn giữ, không chỉ cho hôm nay, mà còn cho muôn đời sau.”
Có người xem đó là một bài “nghiên cứu khoa học” để phản bác lại những người cho rằng những gì Gs Ngọc trình bày không phải là “nghiên cứu”. Tôi nghĩ để biết đó có phải là nghiên cứu khoa học hay không, chúng ta cần phải xem qua nội dung buổi thuyết trình. Tôi thu thập vài slides của giáo sư Ngọc từ trang web Bảo tàng nhân học và trình bày lại trong một pdf kèm theo dưới đây. Bạn đọc có thể theo dõi và tự trả lời xem đó có phải là “nghiên cứu khoa học”.
Trong khi bạn đọc tìm câu trả lời cho riêng mình, tôi sẽ trình bày có vài ý kiến về định nghĩa nghiên cứu khoa học. Là người từ ngoài ngành nhìn vào khoa học xã hội, tôi nghĩ có lẽ cần phải phân biệt giữa hai việc (cũng có thể xem là khái niệm): khảo cứu và nghiên cứu khoa học. Phân biệt hai việc làm này cũng có thể có ích trong việc xác định những gì giáo sư Ngọc trình bày là khoa học hay không khoa học.
Khảo cứu (research) bao gồm những việc làm như thu thập dữ liệu, thông tin để hình thành tri thức. Hiểu theo nghĩa này, đọc một bài báo, một cuốn sách, xem một bản tin trên đài truyền hình, nghe tin tức từ đài phát thanh, thậm chí truy tìm trên internet có thể xem là khảo cứu. Những khảo cứu dưới dạng này có thể xếp vào lĩnh vực mà chúng ta hay gọi là tổng quan(review). Ở Úc, học sinh tiểu học và trung học phải làm khảo cứu trong chương trình học của họ. Học sinh từ lớp 4 hoặc 5 đã được huấn luyện cách thu thập thông tin từ internet, báo chí, sách vở để báo cáo và hình thành một ý tưởng về một vấn đề nào đó, như vấn đề môi sinh, kinh tế, gia đình, v.v.
Nghiên cứu khoa học (scientific research hay scientific study) khác với khảo cứu. Khác ở chữ khoa học. Theo quan điểm chung được nhiều người chấp nhận, nghiên cứu khoa học là qui trình thực hiện một thí nghiệm có phương pháp để kiểm định một hay nhiều giả thuyết, hoặc để nhằm tìm câu trả lời cho những câu hỏi chuyên biệt. Dĩ nhiên, “thí nghiệm” ở đây phải hiểu rộng hơn trong khoa học xã hội. Hai từ quan trọng trong định nghĩa này là có phương pháp và giả thuyết. Nghiên cứu khoa học phải dựa vào phương pháp khoa học (scientific method). Chính phương pháp khoa học phân biệt một nghiên cứu khoa học thật với một nghiên cứu khoa học dỏm (pseudo scientific research).
Nói một cách ngắn gọn, một nghiên cứu có phương pháp khoa học phải được thực hiện theo trình tự như sau:
- Đặt câu hỏi (research question): phương pháp khoa học khởi đầu bằng một hay vài câu hỏi. Những câu hỏi có thể liên quan đến những gì nhà khoa học đang quan sát hay có kinh nghiệm. Câu hỏi bắt đầu bằng nhữngtại sao, cái gì, lúc nào, ở đâu, ai, như thế nào (tức là những why, what, when, where, who và how).
- Khảo sát tài liệu liên quan đến câu hỏi: Không ai có thể bắt đầu từ con số 0, mà phải bắt đầu từ những gì những người đi trước đã làm. Do đó, khảo sát tài liệu, thu thập thông tin liên quan đến câu hỏi là rất quan trọng để hình thành một giả thuyết.
- Phát biểu giả thuyết (hypothesis): Giả thuyết ở đây là phát biểu mang tính tiên đoán, kiểu như nếu tôi làm điều này thì kết quả sẽ là thế này. Một nghiên cứu mà không có giả thuyết thì không thể xem là nghiên cứu khoa học được.
- Tiến hành thí nghiệm để kiểm định giả thuyết: Trong khoa học, bất cứ giả thuyết nào cần phải kiểm định bằng thí nghiệm. Thí nghiệm có thể là thí nghiệm có kiểm soát hoặc có nhóm chứng (controlled experiment) nhưng cũng có thể là thí nghiệm tự nhiên (natural experiment).
- Phân tích dữ liệu từ thí nghiệm và kết luận: Ở bước này, câu hỏi đặt ra là dữ liệu thu thập từ thí nghiệm có phù hợp với giả thuyết đặt ra. Không như bên toán học người ta có thể chứng minh một định lí hay một phát biểu, trong khoa học thực nghiệm và khoa học xã hội, không có chuyện chứng minh giả thuyết, mà chỉ có vấn đề dữ liệu có nhất quán với giả thuyết hay không mà thôi.
- Truyền đạt kết quả và kết luận: Một nghiên cứu không thể xem là hoàn tất nếu kết quả chưa được công bố cho đồng nghiệp và công chúng biết và phản biện. Nơi công bố không phải là những báo chí đại chúng, mà là các tập san khoa học chuyên ngành có bình duyệt (peer review) hoặc ít ra là trong các hội nghị khoa học có bình duyệt.
Quay lại bài của Gs Ngọc, đọc qua nội dung của những slides cho thấy giáo sư bắt đầu bằng giải thích về 5 hình thức “đắc thụ lãnh thổ”, sau đó là quá trình khai chiếm biển Đông, trình bày một số dữ liệu (bản đồ) cổ về biển Đông và ghi chép của các giáo sĩ phương Tây, vương triều Nguyễn xác lập chủ quyền trên Hoàng Sa – Trường Sa, thực trạng tranh chấp, và những việc mà ông cho là cần làm. Không thấy kết luận. Đọc tựa đề “Vấn đề Chủ quyền của Việt Nam ở Trường Sa và Hoàng Sa”, người ta kì vọng một câu trả lời cho những vấn đề, nhưng trong thực tế, ông có một kết luận rằng “cần phải hiểu đúng chủ quyền trên biển theo Công ước của Liên hiệp quốc về Luật biển”. Không biết câu này ông nói cho người Việt Nam hay giới cầm quyền ở Bắc Kinh.
Đối với những ai mới tìm hiểu về Hoàng Sa – Trường Sa, tôi nghĩ những thông tin Gs Ngọc trình bày cũng có ích. Đối với những ai quan tâm và theo dõi vấn đề chủ quyền Hoàng Sa – Trường Sa thì những gì Gs Ngọc trình bày không có gì mới. Người ta có thể vào trang web nghiên cứu biển Đông, đọc sách của tác giả Nguyễn Nhã, Đinh Kim Phúc, v.v. còn có nhiều thông tin hơn. Chẳng những không có gì mới mà những thông tin ông cung cấp có vẻ quá đơn giản, không đầy đủ. Chẳng hạn như trong phần “thực trạng tranh chấp”, giáo sư Ngọc không đề cập đến sự kiện chính quyền China tấn công và xâm chiếm Gạc Ma vào năm 1988 và trước đó hải chiến với VNCH (Hoàng Sa) vào năm 1974. Một thiếu sót khó hiểu và đáng ngạc nhiên! Không rõ những gì giáo sư trình bày có phải là tri thức mới (vì những dữ liệu trong những slides đó đã có trong sách và các nguồn đã công bố từ lâu). Cũng không rõ những thông tin giáo sư trình bày có cái gì là của chính giáo sư nghiên cứu và sáng tạo ra, hay là những thông tin của người khác mà ông chỉ thu thập và trình bày lại. Không rõ nghiên cứu đã công bố ở tập san nào có bình duyệt hay chưa, nhưng một điều khá chắc chắn là nghiên cứu của ông chưa công bố trên một tập san quốc tế nào (vì tìm trong SSCI không thấy bài nào của ông). Có thể kết quả được trình bày trong một báo cáo nghiệm thu chỉ có một số ít được đọc.
Nếu đối chiếu những định nghĩa và qui trình trên đây, chúng ta dễ dàng thấy những gì Gs Ngọc trình bày có lẽ được xếp vào loại “khảo cứu” hay một exercise, chứ không phải là một công trình “nghiên cứu khoa học”. Thật ra, đối với vấn đề chủ quyền Hoàng Sa – Trường Sa, có lẽ khảo sát và lí luận là thích hợp hơn. Chúng ta cần những lí luận sắc bén trên cơ sở pháp lí và logic, với cơ sở chứng cứ từ khảo sát, chứ không cần những khảo sát thuần tuý thu thập dữ liệu. Dữ liệu mà không được biến thành thông tin thì đó là dữ liệu không có ích. Chúng ta không cần những nghiên cứu để viết nên những câu chữ mang đậm tính rhetoric và cảm tính như “Chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa và Trường Sa là một trong những trang đẹp nhất, bi hùng nhất của lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam ta.” Chúng ta rất cần những công trình lí luận về pháp lí để nói với giới học thuật quốc tế (chứ không phải những khảo cứu dành cho báo chí đại chúng) về chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.
Nhưng chắc chắn nghiên cứu khoa học cũng có vai trò trong vấn đề Hoàng Sa – Trường Sa. Nghiên cứu khoa học về chủ đề gì và tiếp cận ra sao? Tôi nghĩ cách tiếp cận trong Eden in the East là một cách để chúng ta tham khảo. Tôi nghĩ đến những nghiên cứu phân tích về thời điểm hình thành và nguồn gốc của thực vật, gia cầm trên các đảo và mối tương quan với thực vật và động vật trên đất liền. Đó cũng là một đóng góp đáng kể để chúng ta có thêm chứng cứ khoa học về chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo.
Nguyễn Văn Tuấn
Nguồn: Nguyễn Văn Tuấn – Blog
Nguồn: Nguyễn Văn Tuấn – Blog









