![]() |
| Biểu tình chống TQ tại Hà Nội hôm 05/06/2011 |
Cách đây tròn một năm, vào chủ nhật ngày 5/6 năm ngoái, nhiều người dân tại hai thành phố Hà Nội và Sài Gòn đã đồng loạt xuống đường biểu tình chống việc TQ gây hấn tại khu vực Biển Đông thuộc chủ quyền VN.
Gia Minh ghi nhận cảm nghĩ của một vài người tham gia hoạt động đó sau một năm nhìn lại.
Bày tỏ lòng yêu nước
Tại Hà Nội có được hơn chục cuộc biểu tình vào các chủ nhật kề từ ngày 5 tháng 6, còn ở Sài Gòn sau cuộc biểu tình đầu tiên được cho là đầy khí thế với cả ngàn người tham dự thì hầu như chỉ thêm một cuộc nữa mà thôi, còn tất cả những tuần tiếp theo đều bị lực lượng an ninh chặn đứng.
Luật gia Lê Hiếu Đằng, từng tham gia trong phong trào sinh viên tranh đấu trước năm 1975 và nguyên phó chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố Hồ Chí Minh, một người có mặt trong cuộc biểu tình đầu tiên ở Sài Gòn nhớ lại những kỷ niệm trong ngày 5 tháng 6 ở khu vực trung tâm thành phố:
Đó cũng là thái độ để khuyến cáo Nhà nước Việt Nam phải có những biện pháp mạnh mẽ để bảo vệ ngư dân Việt Nam, và bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ.Ô. Lê Hiếu Đằng
“Có thể nói đó là một dấu mốc rất lớn để khẳng định thái độ của người dân Thành phố đối với hành động ngang ngược, hà hiếp ngư dân Việt Nam đang đánh bắt trên ngư trường truyền thống của mình. Và đó cũng là thái độ để khuyến cáo Nhà nước Việt Nam phải có những biện pháp mạnh mẽ để bảo vệ ngư dân Việt Nam, và bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ.
Vừa rồi chúng tôi cũng gặp nhau kỷ niệm một năm xuống đường chống bọn bành trướng Bắc Kinh. Có thể nói đây là một kỷ niệm hết sức sâu sắc đối với chúng tôi - những người đã từng tham gia biểu tình. Trong những cuộc biểu tình đó có những vị trí thức lớn, đồng thời có những anh em trong phong trào sinh viên - học sinh cũ, cùng với thanh niên. Những hình ảnh thanh niên rất dũng cảm.Mặc dù một số trường học khuyến cáo không được biểu tình, nhưng có một số anh em sinh viên vẫn tham gia biểu tình, lên đến hơn ngàn người. Tôi còn nhớ một hình ảnh rất hào hùng là lúc đó cảnh sát dã chiến họ dựng barrier để ngăn cản, nhưng dòng người như một dòng thác cuối cùng đã cuốn những barriers đó. Cuối cùng họ đi từ Tổng Lãnh sự ra Nhà thờ Đức Bà rồi đường Lê Duẩn… Có thể nói khí thế rất lớn, hào hùng biểu thị ý chí và quyết tâm của nhân dân thành phố nói chung, và cả nước trong việc bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, nhất là những vùng hải đảo trong đó có Hoàng Sa và Trường Sa.”
Bà Bùi thị Minh Hằng, một biểu tình viên chống Trung Quốc tích cực tại Hà Nội và từng bị bắt đưa vào Trại giáo dục Thanh Hà vì hoạt động tham gia biểu tình, cho biết động cơ tham gia biểu tình:
![]() |
| Người dân Hà Nội xuống đường biểu tình chống Trung Quốc hồi tháng 8 năm 2011. AFP PHOTO. |
“Vào những ngày này năm 2011, hòa với không khí chung của những đồng báo nói lên tình yêu nước, tôi cũng đã xuống đường. Một điều phải nói đã thôi thúc tôi đó là tình cảm của tất cả những người dân Việt Nam dành cho Tổ quốc mình trong bất cứ giai đoạn lịch sử nào. Hơn nữa, tôi có thời gian làm những công việc gần gũi biển. Như tôi đã nói một vài lần là tôi từng chứng kiến những cảnh rất đau lòng, ví dụ việc ngư dân chết ngoài biển khơi, phải bỏ vào thùng đá ướp cá để đưa xác vào đất liền… Đó là cảm tình đồng loại, và lòng căm thù giặc ngoại xâm đối với bà con, dân tộc mình.
Vào thời điểm này năm ngoái trên các trang mạng xuất hiện tin tức và hình ảnh tàu Trung Quốc cắt cáp của tàu Việt Nam do chính công nhân chụp và đưa lên.”
Hoạt động của người dân biểu tình chống Trung Quốc gây hấn, xâm phạm lãnh hải Việt Nam đã không được chính quyền cho phép; đồng thời nhiều người như bà Bùi Thị Minh Hằng đã bị bắt giam, đánh đập… Truyền thông Nhà Nước như Đài Truyền hình - Phát thanh Hà Nội còn cho rằng họ là những thành phần gây rối an ninh trật tự.
Trước những biện pháp đàn áp của phía chính quyền, nhiều người tham gia biểu tình đã có khiếu nại đối với những biện pháp, quyết định, và tuyên truyền mà họ cho là vi phạm luật của phía chính quyền.
Bà Bùi thị Minh Hằng cho biết những phản ứng của người biểu tình trước hành xử của chính quyền trong khi biểu tình cũng như sau này:
Một điều phải nói đã thôi thúc tôi đó là tình cảm của tất cả những người dân Việt Nam dành cho Tổ quốc mình trong bất cứ giai đoạn lịch sử nào.Bà Bùi thị Minh Hằng
“Khi chúng tôi bị đàn áp, những hình ảnh đó được ghi lại. bản thân tôi và nhiều người khác bị đàn áp bắt bớ. Chúng tôi đã có đơn thư gửi đến chính quyền Hà Nội mà đến bây giờ vẫn chưa được giải đáp thỏa đáng.”
Bà cũng nêu ra mối tình thân giữa những người cùng xuống đường biểu tình dù rằng họ thuộc những thế hệ, tầng lớp khác nhau:
“Xuất phát từ việc biểu tình thể hiện lòng yêu nước - điều này có suốt trong 4.000 năm lịch sử của dân tộc, nên tình cảm họ dành cho nhau là tình cảm của những người đi chiến đấu vì độc lập, tự do và lẽ phải. Tình cảm họ dành cho nhau mang tính chất đồng đội, đồng chí. Bởi thể đó luôn là sự gắn kết nói lên sự đoàn kết. Chúng tôi luôn giữ mãi những tình cảm của nhau như thế trong tất cả mọi trường hợp và thời gian tiếp theo.”
Một kỷ niệm sâu sắc
Luật gia Lê Hiếu Đằng thì cho biết cách thức mà những người yêu nước ở Sài Gòn hành động để bày tỏ lòng yêu nước của họ:
“Thật ra chúng tôi chủ trương đã biểu tình phải qui mô lớn. Nếu biểu tình chỉ vài chục hay vài trăm người thì không có khí thế. Trong cuộc biểu tình lần thứ hai số lượng người cũng giảm đi. Hà Nội có những ưu thế khác. Do đó chúng tôi nghĩ phải có hình thức khác hơn, như sau đó chúng tôi kỷ niệm ngày Trường Sa - Hoàng Sa ở số 43 Nguyễn Thông có mấy trăm người tham dự. Chúng tôi bày tỏ thái độ về việc đánh giá những người lính Cộng Hòa đã hy sinh bảo vệ Hoàng Sa năm 1974. Chúng tôi đề nghị phải nhớ ơn những người đó. Đồng thời phải nhớ ơn những chiến sĩ đã hy sinh ở biên giới phía Bắc, cũng như phía Nam, Đảo Gạc Ma năm 1988 khi Trung Quốc tấn công một vài đảo ở Trường Sa…
Chúng tôi chuyển qua những hình thức đó để không tạo cớ cho chính quyền đàn áp. Vì nay chưa có luật biểu tình nên họ đàn áp.”
Ông cũng đưa ra những ý kiến mà chính quyền cần có để bảo vệ đất nước:
![]() |
| Người dân biểu tình ôn hòa chống Trung Quốc tại Hà Nội hôm 12/06/2011. Courtesy NguyenXuanDien. |
“Trong tuyên cáo sau đó chúng tôi phản đối sự đàn áp những cuộc biểu tình yêu nước của người dân. Như thế là đi ngược lại ý chí, nguyện vọng của người dân. Chúng tôi biểu tình chống hành động ngang ngược của Trung Quốc là hành động chính đáng, có gì đâu mà cấm đoán. Nhưng rất tiếc chính quyền Tp Hồ Chí Minh và Hà Nội sau đó đã cấm việc làm đó nên chúng tôi thấy rất bất bình.
Tôi nghĩ lẽ ra phải dựa vào lòng dân, dựa vào sức mạnh của người dân để mà cảnh báo chính quyền Trung Quốc rằng chính nhân dân Việt Nam không thể nào chấp nhận những hành động ngang ngược của Trung Quốc. Lẽ ra Nhà Nước Việt Nam phải dựa vào khí thế của người dân, xem đây là một điều kiện trong mối quan hệ giữa hai nước. Không thể nói một cách chung chung “16 chữ vàng, 4 tốt”. Đó chỉ nói về mặt ngoại giao thôi chứ thực lực phải dựa vào dân. Về mặt quân sự mà nói giữa Việt Nam và Trung Quốc có sự chênh lệch; nên phải dựa vào lòng dân và dựa vào tình hình quốc tế- hiện Trung Quốc đang bị cô lập về tình hình Biển Đông. Chúng ta phải dựa vào những điều đó, và thấy buồn vì chính quyền không thấy được điều đó và đàn áp những cuộc biểu tình yêu nước của người dân.”
Cả hai người mà chúng tôi ghi nhận ý kiến nhân kỷ niệm một năm xuống đường biểu tình chống Trung Quốc gây hấn, xâm phạm lãnh hải của Việt Nam đều cho rằng không có gì có thể dập tắt lòng yêu nước của người dân. Dù bị ngăn chặn, đàn áp nhưng họ cũng sẽ tìm mọi cách để biểu tỏ lòng yêu nước, và cương quyết góp phần giữ vững chủ quyền, độc lập của quốc gia.
Nguon: RFA
Đã gần hai tháng trôi qua nhưng dư âm của cuộc bầu cử Quốc hội bổ sung ở Miến Điện vẫn có sức lan tỏa lớn. Vẫn còn nhiều dè dặt, thậm chí là hoài nghi về những đổi thay chính trị chóng vánh ấy, nhưng điều đó không có nghĩa là chúng ta không được quyền tin tưởng vào một tương lai mới, tốt đẹp hơn cho xứ sở vàng này.
Miến Điện thay đổi, Việt Nam thì chưa
Nhiều nguyên nhân của sự thay đổi được nói đến: 1/do tác động của Hoa Kỳ và phương Tây lên chính quyền Miến Điện vì họ không muốn Miến Điện với vị trí địa chính trị quan trọng, rơi vào tay Trung cộng; 2/do sức ép về sự nghèo khổ, lạc hậu và ngày càng phụ thuộc vào Trung Quốc; 3/do tinh thần dân tộc và lòng yêu nước của những người lãnh đạo Miến Điện trước hiện trạng đất nước bị cô lập với thế giới ; 4/do sự đấu tranh ngoan cường của nhân dân Miến Điện dưới biểu tượng Aung San Suu Kyi, cùng với tác động của các cuộc nổi dậy ở Ả Rập khiến Nhà cầm quyền nhận thấy sự cần thiết phải nới lỏng chính sách cai trị “bàn tay sắt” của mình nếu không muốn chịu chung số phận với những kẻ độc tài đã ra đi ở Ả Rập…
Có thể mức độ tác động của những nhân tố này lên sự cải cách chính trị ở Miến Điện là không giống nhau, nhưng thiển nghĩ nguyên nhân của vấn đề nằm trong mối quan hệ cộng hưởng tất cả các nhân tố này. Không phải là cái này hay cái kia mà là tất cả; vấn đề là nhấn tố nào đóng vai trò cốt yếu, thúc đẩy các nhân tố còn lại.
Với nguyên nhân đầu tiên, tức là vị tri chiến lược của Miến Điện đã giúp họ, ta có thể đặt câu hỏi là Việt Nam với bờ biển dài nhìn ra một vùng biển chiến lược không quan trong trong con mắt người phương Tây và Mỹ sao? Nếu căn cứ vào nguyên nhân thứ hai, tức tình trạng nghèo khổ và bị cô lập, thì ta ngỡ ngàng tự hỏi: Bắc Triều Tiên không nghèo khổ và bị cô lập với thế giới ư? Về nguyên nhân thứ ba, nếu tập đoàn độc tài Miến Điện yêu nước thì sao lại khiến Miến Điện kiệt quệ như thế rồi mới đổi ý, tại sao mới đây họ vẫn đàn áp đẫm máu các cuộc biểu tình năm 2007; lâu nay họ vẫn cai trị bằng chính sách khắc nghiệt, tại sao bỗng nhiên trở nên đầy lương tri như thế? Và với nguyên nhân cuối cùng, ta có thể nhận thấy rằng, người Mỹ và phương Tây chỉ can thiệp vào những nơi mà tự nó đã có một phong trào vững mạnh và cũng chính sự phản kháng mạnh mẽ ấy của người dân Miến mới là điều gợi lên trong tâm trí những kẻ cầm quyền ý muốn thay đổi nhiều nhất, vì họ cảm thấy thực sự bất an về tương lai của mình. Với kiến thức hạn hẹp của mình, tôi nghĩ, đây mới là nguyên nhân nền tảng, là điều kiện tiên quyết, ảnh hưởng đến các nguyên nhân còn lại.
Miến Điện phản kháng mạnh mẽ, Việt Nam thì chưa
Từ cách nhìn nhận rằng một phong trào quần chúng phản kháng bền vững và mạnh mẽ là vô cùng quan trọng, nhiều câu hỏi cứ quanh quẩn trong đầu tôi, và có lẽ cũng ám ảnh khá nhiều người. Tại sao ngay từ năm 1974 đã có những cuộc biểu tình lớn ở Miến Điện, và năm 1988 đã có nửa triệu người tham gia meeting nghe bà Aung San Suu Kyi đọc diễn văn? Tại sao năm 2007, hơn 20.000 người bao gồm các nhà sư và dân chúng Miến Điện đi biểu tình, còn Việt Nam vào năm 2011, số người đi biểu tình chỉ bằng 1/10 con số ấy vào lúc cao điểm (dù ở ta, chỉ là biểu tình phản đối Trung Quốc chứ không phải là biểu tình đòi tự do dân chủ-một đòi hỏi tiến bộ, quan trọng và cũng nhạy cảm hơn nhiều)?
Người Miến Điện không sợ hãi sao? Không, đã là con người không ai muốn mang sự an toàn và sinh mạng của mình ra thách đố, đặc biệt là thách đố những kẻ cai trị có vũ trang. Người Miến Điện cũng vậy. Bằng chứng là theo các phóng viên quốc tế có mặt tại Miến Điện, sau những tuyên bố cải cách của chính quyền, nhiều người dân còn rất dè dặt, có người còn không dám dừng lại nhìn ảnh Aung San và con gái quá lâu vì họ e ngại những sự “cởi trói” này là giả dối (kiểu như năm 1986 Nguyễn Văn Linh “cởi trói văn nghệ sĩ “).
Người Miến Điện dám dấn thân vì họ từng có kinh nghiệm với nền dân chủ ư? Đồng ý kinh nghiệm về một nền dân chủ là điều kiện thúc đẩy lòng kháo khát được sống tự do. Nhưng người dân bình thường rất dễ quên, trong một khoảng thời gian đủ dài bị cai trị quá khắt nghiệt, họ sẽ quên mất mình từng được hưởng điều gì; huống chi lớp người đã từng kinh qua nền dân chủ ở Miến Điện vào thời điểm năm 1988 đã già và những người hăng hái đấu tranh nhất trong cuộc nổi dậy 8888 lại là những người trẻ. Và một câu hỏi quan trọng được đặt ra ở đây là : người miền Nam Việt Nam không có kinh nghiệm với dân chủ sao?
Hay vì dân Miến Điện quá đói khổ và thiếu thốn mọi phương tiện khiến họ phải đấu tranh, còn ở Việt Nam dù sao vẫn còn có thể chịu đựng được? Chúng ta hãy nhớ lại, năm 1962 khi Ne Win thiết lập chế độ độc tài, thì đến năm 1974, tức là 12 năm sau, đã có những cuộc biểu tình phản kháng chế độ. Còn ở miền Bắc Việt Nam, từ năm 1954 trải qua cuộc cải cách ruộng đất đẫm máu cùng thời kỳ tem phiếu bao cấp đói khổ cùng cực, cho đến năm 1986 là hơn ba mươi năm, thành thị và làng quê tan hoang nhưng không có cuộc phản kháng nào xảy ra cả. Ở miền Nam, từ năm 1975 đến 1986 trải qua thời kỳ bao cấp quằn quại cũng gần 12 năm nhưng mọi thứ vẫn im ắng. Bởi vậy, sự nghèo đói không thể là động lực giúp dân chúng vượt qua sợ hãi để đứng lên, nếu không muốn nói là nó có thể làm kiệt quệ tinh thần phản kháng.
Vậy thì tại sao Miến Điện có một phong trào phản kháng mạnh mẽ như thế, còn chúng ta thì không? Có lẽ nếu muốn đơn giản hóa vấn đề, ta chỉ cần quy kết cho vận mệnh mỗi dân tộc. Nhưng dù sao trước tiên chúng ta hãy tự cho mình cơ hội suy nghĩ một chút về vấn đề này.
Người Miến Điện giữ được nội lực, Người Việt Nam thì đã mất nội lực
Từ trước khi bà Aung San Suu Kyi về nước năm 1988, những cuộc biểu tình lớn đã nổ ra; nhưng không thể phủ nhận sự tham gia và lãnh đạo của bà đối với Liên Đoàn quốc gia vì Dân chủ đã làm phong trào đấu tranh dân chủ Miến Miến có thêm sức mạnh và sự gắn kết. Nhận định và đánh giá cao vai trò của bà-con gái một vị anh hùng dân tộc trong việc kết nối mọi thành phần đấu tranh, các trưởng lão dày dạn kinh nghiệm đã mời bà tham gia và trở thành người lãnh đạo Liên đoàn cũng như phong trào đối lập, dù trước đó bà chưa có kinh nghiệm chính trị nào. Tôi thật sự khâm phục những con người khả kính này, những con người đã đặt quyền lợi dân tộc lên trên cái tôi hão huyền để có được một người lãnh đạo có uy tín, một biểu tượng của phong trào-điều mà những người đối lập ở Việt Nam chưa có được. Bởi, như một người bạn mà tôi quý trọng đã nói rằng : “những người hoạt động ở Việt Nam có một tâm lý rất lạ: một mặt họ chống lại lãnh đạo (hiểu theo nghĩa lãnh tụ), mặt khác họ hành xử đầy tính lãnh tụ”. Vậy là ngay từ bước đầu tiên này chúng ta đã không thể sánh với người Miến Điện; còn chuyện thế nào là lãnh đạo, thế nào là lãnh tụ và vai trò của người lãnh đạo, tôi xin được nói trong một bài khác.
Có một người lãnh đạo nhiều uy tín là một điều quan trọng, nhưng sẽ là vô ích nếu người dân không hưởng ứng. Điều tôi muốn nhấn mạnh ở đây, khi nói về sự lớn mạnh của phong trào phản kháng ở Miến Điện chính là cái NỘI LỰC của họ. Dù sợ hãi chế độ độc tài, người Miến Điện đã có được một thứ NỘI LỰC mà người Việt Nam không có. NỘI LỰC ấy nằm ở sức mạnh văn hóa.
Mặc dù dưới những năm cầm quyền của mình, Ne Win muốn học tập Trung Quốc, định hướng cho Miến Điện theo con đường XHCN. Nhưng nhìn chung Miến Điện không bị áp đặt một chủ thuyết nào lên toàn bộ hệ thống chính trị, xã hội, kinh tế. Chế độ cầm quyền ở đó là quân phiệt chứ không phải cộng sản như Việt Nam. Một chính thể độc tài không mang theo mình một chủ thuyết độc hại như chủ nghĩa cộng sản thì bản chất nó cũng gần giống với một nền quân chủ chuyên chế; nó có thể làm cho xã hội trì trệ và lạc hậu, nhân cách xuống cấp ở một mức độ nào đó nhưng ít ra nó không phá hủy triệt để những giá trị văn hóa truyền thống của xã hội, để thay vào đó là một loại văn hóa, loại mô hình xã hội bệnh hoạn, duy ý chí như trường hợp Việt Nam, Trung Quốc.
Ở Miến Điện, văn hóa, đạo đức và tôn giáo vẫn giữ được giá trị nội tại, đời sống văn hóa tinh thần của người dân vẫn nhân văn và thuần phác. Một nền luân lý Phật giáo đúng nghĩa đứng ở vị trí trung tâm trong đời sống tinh thần của họ. Như những nhà báo quốc tế ghi nhận thì, người dân Miến tuy sống nghèo khổ nhưng rất hiền lành, đa số họ thiền định mỗi ngày. Nghèo khổ và lạc hậu ở họ không đồng nghĩa với sự hèn nhát và sự xuống dốc về văn hóa và đạo đức. Chính vì giữ được sức mạnh tinh thần ấy, chính vì đứng trên cái trụ văn hóa nhân bản, trong đói khổ, đàn áp và sợ hãi, người dân Miến không ngừng phản kháng, đòi tự do, dân chủ.
Trái lại, dưới chế độ cộng sản Việt Nam, văn hóa, đạo đức và các truyền thống tôn giáo tốt đẹp đã gần như bị hủy hoại tận gốc rễ. Một xã hội hiện đại nửa mùa, một nền văn hóa mới theo kiểu Tây phương chưa xây dựng được (mà chỉ bắt chước người ta những thói xấu), còn cội nguồn văn hóa truyền thống thì đã biến thái thành những thứ quái dị. Những nhân đức hiền lành, chất phác, lòng yêu nước thiết tha biến thành những mánh mung, lừa đảo, vị kỷ. Một tôn giáo truyền thống từng góp phần to lớn xây dựng nên khí chất Việt Nam, bây giờ đã trở thành một thứ mê tín dị đoan. Đã mấy mươi năm sống dưới một chế độ độc tài hủy diệt văn hóa, bóp méo ý chí lành mạnh và làm thui chột năng lực tinh thần thì lúc đói khổ chúng ta chỉ lo miếng cơm, lúc sung túc chúng ta chỉ lo hưởng thụ. Mất cái gốc tinh thần (văn hóa, luân lý) chúng ta đang lâm vào một cuộc khủng hoảng nghiêm trọng về ý chí và nhân cách. Cái gốc của mọi hành động là tinh thần, ý chí yếu đuối, tinh thần bạc nhược, thì chẳng thể làm những việc lớn lao (nếu không có những điều kiện đột biến làm đòn bẩy).
Vì thế, giáo dục dân trí thông qua những luận bàn nghiêm túc về văn hóa (kể cả văn hóa chính trị), đạo đức, xã hội, chính trị… sẽ là cực kỳ cần thiết để vực dậy cái nội lực đã hư hao ấy; để chính sự phục hồi này, nếu không tạo được một biến cố cho sự đổi thay thì nó cũng giúp cho một thể chế tiến bộ trong tương lai dễ vận hành hơn. Và như John Stuart Mill đã nói: “Một dân chúng có thể còn chưa sẵn sàng cho một thiết chế tốt đẹp, nhưng việc nhen nhóm lên lòng mong ước có được thiết chế ấy phải là phần việc cần thiết cho sự chuẩn bị”. Văn hóa suy đồi, tinh thần khiếp nhược chính là những thứ chúng ta phải chung tay từng giờ để tháo gỡ, hầu mang lại một nội lực mới cho dân tộc. Có nội lực ấy rồi, không những chúng ta có thể dễ dàng xóa bỏ chế độ độc tài, mà còn có thể tiến vào chế độ dân chủ tự do không chút trở ngại.
Sài Gòn, ngày 25 tháng 5 năm 2012
Huỳnh Thục Vywww.vietthuc.org
Sài Gòn – Nhiều anh chị em yêu mến hoà bình và sự thật đã ngạc nhiên khi thấy ông Nguyễn Bắc Truyển, một tù nhân chính trị xuất hiện tại DCCT, trong thánh lễ cầu nguyện cho Công lý và Hoà bình. Nói với phóng viên VRNs, ông Truyển cho biết đã hết hạn quản chế tại gia 10 ngày.
Tuy nhiên, trưa hôm nay, 29.05.2012, chúng tôi nhận được tin, ông Nguyễn Bắc Truyển lên UBND phường 4, quận 4, Sài Gòn để làm việc với chủ tịch phường 4 và nhân viên thi hành án quận 4, cùng nhân viên Tư pháp phường.
Tại đây, nhà cầm quyền đã thông báo về việc ông Truyển phải thi hành quản chế cho đến hết ngày 31.08.2012. Lý do mà họ đưa ra là khi ông rời nhà tù ngày 17.05.2012, ông không thực hiện quản chế tại phường Nguyễn Cư Trinh mà tự ý đi làm việc tại huyện Bình Chánh. Họ cũng đưa ra Quyết định thi hành án quản chế của Tòa án đối với ông ban hành vào tháng 09.2010, do đó họ nói cái mốc thi hành quản chế của ông bắt đầu từ ngày 31/8/2010 và sẽ chấm dứt vào ngày 31/8/2012.
Tôi đã trình bày với họ rằng, sau khi ra tù, 5 ngày sau tôi đã trình diện địa phương và việc không thi hành quản chế đối với tôi là do lỗi địa phương (phường Nguyễn Cư Trinh) không phải lỗi cùa tôi, do đó việc kéo dài thời gian quản chế gọi là “bù″ vào thời gian không quản chế là một sự vi phạm các quy định về quản chế. Tôi đề nghị họ phải xem xét lại việc này. Họ nói là sẽ có cuộc họp giữa các ban ngành liên quan để giải quyết việc quản chế của tôi và trả lời cho tôi biết. Tôi đề nghị họ phải có văn bản chính thức về việc chấm dứt quản chế hay tiếp tục thi hành quản chế đối với trường hợp của tôi. Họ đồng ý sẽ có văn bản chính thức. Đây là cái thế tôi buộc họ phải làm để họ không thể chơi trò ma giáo sau ngày 31.08.2012.
Thật ra, khi nhận được thư mời của Ủy ban phường 4, ông Nguyễn Bắc Truyển đã đoán trước nội dung làm việc là sẽ kéo dài thêm thời gian quản chế. Trước đó ngày 27.05.2012, ông đã rời khỏi nhà cùng với chị Bùi Thị Minh Hằng (người vừa về từ trại giáo dục Thanh Hà) đi thăm Thầy Thích Thiện Minh và tham dự Thánh Lễ tại Dòng Chúa Cứu Thế. An ninh đã biết ông rời khỏi nhà, nhưng khác với thái độ trước đây là lập biên bản về sự vắng mặt của ông, họ lặng lẽ rút lui và đón ông bên Dòng Chúa Cứu Thế. Khi biết ông xuất hiện tại Dòng Chúa Cứu Thế họ cũng không phản ứng gì, cho thấy họ lúng túng trong việc xử lý trường hợp của ông: đã chấm dứt quản chế hay chưa? chính họ cũng không chắc chắn. Họ đang mua thời gian cho tất cả các vấn đề nhằm kéo dài sự riệu rạo suy yếu của chế độ.
Cũng theo nguồn tin riêng của VRNs cho biết ông Nguyễn Bắc Truyển đã nói với nhà cầm quyền: “3 năm 6 tháng tù và 2 năm quản chế vừa qua cũng không thay đổi được quan điểm và tư tưởng thì thêm 3 tháng nữa cũng vậy mà thôi”.
Nguồn tin này cho biết thêm an ninh đã đề nghị là sau khi hết quản chế của ông Truyển, họ sẽ làm một cái lễ tổng kết “ăn mừng”, nhưng ông đã không đồng ý, và cho biết “tôi sẽ đến lấy giấy chứng nhận hết quản chế và ra về, không có ăn mừng hay tổng kết gì hết”.
Nguồn tin riêng cũng cho biết, một nhân viên an ninh có trách nhiệm làm việc với ông thường xuyên, đã đe doạ ông: anh ta được phân công theo tôi như một cái bóng, cho đến khi nào một trong hai người chết mà thôi, tôi không ngạc nhiên lắm việc này.
CTV.
Nguon: VRNs
(New York, ngày 29 tháng Năm năm 2012) – Hôm nay, Tổ chức Theo dõi Nhân quyền phát biểu rằng chính quyền Việt Nam cần hủy bỏ bản án dành cho blogger Hồ Thị Bích Khương, 44 tuổi và ngay lập tức trả tự do cho bà. Tòa án Nhân dân Tỉnh Nghệ An dự kiến mở phiên phúc thẩm vào ngày 30 tháng Năm năm 2012 để xử việc kháng án của bà đối với bản án năm năm tù giam vì vi phạm điều 88 bộ luật hình sự, có nội dung cấm “tuyên truyền chống nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.”
Bà Hồ Thị Bích Khương bị xử sơ thẩm vào ngày 29 tháng Mười Hai năm 2011 vì đã trả lời phỏng vấn báo chí nước ngoài, với nội dung bị chính quyền cho là phê phán chính phủ, và vì đã làm ra, tàng trữ và phát tán các tài liệu bị coi là chống nhà nước.
“Đây là lần thứ ba trong vòng bảy năm, Hồ Thị Bích Khương bị vào tù vì đã thực thi quyền bày tỏ quan điểm của mình,” ông Phil Robertson, Phó Giám đốc phụ trách châu Á của Tổ chức Theo dõi Nhân quyền nói. “Việc áp dụng điều 88 một cách có hệ thống để tùy tiện trừng phạt các blogger và những người phê phán chính phủ cho thấy mức độ coi thường tự do ngôn luận của Việt Nam vẫn không hề suy giảm.”
Vào tháng Năm năm 2005, chính quyền bắt giữ Hồ Thị Bích Khương ở Hà Nội, nơi bà tới văn phòng khiếu tố của chính phủ để nộp đơn khiếu nại về việc chính quyền địa phương tịch thu các cửa hàng của bà. Tòa án Nhân dân quận Ba Đình, Hà Nội, xử bà sáu tháng tù giam vì hành vi “gây rối trật tự công cộng” theo điều 245 bộ luật hình sự. Vào tháng Tư năm 2007, công an bắt giữ bà tại một tiệm Internet ở Nghệ An vì đang đọc thông tin trên các trang mạng nước ngoài. Tháng Tư năm 2008, một năm sau khi bắt giam Hồ Thị Bích Khương, Tòa án Nhân dân tỉnh Nghệ An xử bà hai năm tù về tội “lợi dụng quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích nhà nước” theo điều 258.
Hồ Thị Bích Khương là một thành viên tích cực của một nhóm dân oan đang phát triển rất nhanh, gồm những người đi khiếu kiện đã sử dụng mạng Internet để bảo vệ quyền lợi của mình và của những người bị oan ức khác. Bà công bố những thông tin chi tiết về các hành động đàn áp và sách nhiễu nhằm vào bản thân và gia đình mình, và viết về những nỗi khổ cực của những người nông dân nghèo và những người bảo vệ nhân quyền phải chịu đựng. Bà được trao giải thưởng uy tín Hellman-Hammett năm 2011.
Ngày 28 tháng Ba năm 2012, Tòa án Nhân dân tỉnh Nghệ An dự định mở phiên phúc thẩm vụ Hồ Thị Bích Khương. Bà đã thành công trong việc yêu cầu hoãn phiên xử khi tuyên bố trước tòa rằng mình đã bị biệt giam và thậm chí không được thông báo trước về ngày xử phúc thẩm. Bà kể với người nhà rằng mình đã bị một phạm nhân khác đánh bốn lần trong khi quản giáo ngoảnh mặt làm ngơ.
Đó không phải là lần đầu Hồ Thị Bích Khương bị đánh đập trong khi bị tạm giam. Hồi ký ngục tù của bà được báo Người Việt Online, một tờ báo có nhiều ảnh hưởng của người Mỹ gốc Việt ở Quận Cam, bang California đăng nhiều kỳ trong tháng Bảy và tháng Tám năm 2009. Trong hồi ký, bà thuật lại chi tiết việc bị công an điều tra đánh trong khi tạm giam, đồng thời tả khái quát về điều kiện sống khủng khiếp sau song sắt.
“Công an vẫn tiếp tục tra tấn những người bị tạm giam, tạm giữ một cách có hệ thống,” ông Robertson nói. “Chính quyền cần tiến hành điều tra kỹ càng và công khai về những cáo buộc nghiêm trọng của Hồ Thị Bích Khương và quy trách nhiệm đối với những cán bộ đã đánh đập hoặc dung túng cho những tù nhân khác lạm dụng bà.”
Sau khi được thả vào tháng Tư năm 2009, Hồ Thị Bích Khương tiếp tục lên án chính quyền đã gây ra những nỗi bất công cho mình và gia đình mình. Bà từng tham gia vào ít nhất là hai cuộc biểu tình tự phát của những người mất đất hoặc đòi quyền lợi ở Nghệ An trong năm 2010 và viết bài trên mạng Internet về những vi phạm bà cho là do chính quyền địa phương gây ra đối với quyền lợi người dân ở đó.
Trong tháng Mười Một năm 2010, Hồ Thị Bích Khương đi thăm gia đình các nạn nhân bị chết dưới tay công an trong một cuộc xung đột về quyền lợi đất đai ở Nhà máy lọc hóa dầu Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa, vào tháng Năm năm 2010, và chất vấn sự im lặng của chính quyền trước vụ việc này. Tháng Mười Hai cùng năm đó, bà thuật lại việc chính quyền địa phương dùng bạo lực đối với các nhóm Tin lành Mennonite độc lập ở Thanh Hóa khi họ cố họp mặt tổ chức thánh lễ mừng Giáng sinh. Ba tuần sau đó, Hồ Thị Bích Khương bị bắt.
“Đáng lẽ Việt Nam phải biết ơn những người như Hồ Thị Bích Khương đã kêu gọi sự chú ý về những hành vi lạm dụng của chính quyền địa phương,” ông Robertson nói. “Họ tạo cho chính phủ một cơ hội điều tra sự việc và thể hiện cam kết tôn trọng pháp quyền. Khi chính quyền phản ứng ngược lại bằng cách xiết chặt báo chí và bắt giam các blogger độc lập, họ đương nhiên khuyến khích các hành vi tham nhũng và lạm quyền hơn nữa.”
Human Rights Watch
Chuacuuthe.com
Ngày 28 tháng 5 năm 2012Là một đại diện cho cử tri vùng Fowler, tôi thường nêu lên những mối quan tâm liên quan đến tình hình nhân quyền tại Việt Nam. Lập trường của tôi về vấn đề này rõ ràng.
Tôi tin vào một thế giới ở đó các quyền cơ bản của con người được tôn trọng, và tôi rất ngưỡng mộ những người can đảm dám gióng lên tiếng nói vì quyền hạn của họ.
Trong vòng mười tám tháng qua kể từ khi trở thành đại diện cử tri vùng Fowler, tôi đã thường được tiếp cận với cộng đồng người Việt và được yêu cầu nêu mối quan tâm của họ lên Quốc Hội Úc.
Mối quan tâm chính của 1/4 số cử tri trong địa hạt tôi là vấn đề nhân quyền tại Việt Nam, và tôi xem đó là một vinh dự và đặc quyền để đại diện họ trong Quốc hội về một vấn đề quan trọng như vậy.
Cùng tham dự với tôi hôm nay là các đại diện Ban Chấp Hành VCA (Cộng Đồng Người Việt Tự Do), giới truyền thông Việt Nam và một số người Úc gốc Việt quan tâm về nhân quyền. Tôi xin gởi lời cảm ơn họ đã đến tham dự ngày hôm nay.
"... tôi cảm thấy kinh hoàng trước số lượng người dân hiện đang bị giam giữ tại Việt Nam chỉ vì họ thực thi các quyền cơ bản của con người..." DB Úc Chris Hayes
Tôi đệ đạt kiến nghị này vì tôi quan tâm đến các báo cáo ngày càng nhiều về việc vi phạm nhân quyền trầm trọng tại Việt Nam. Mặc dù chính phủ Việt Nam đã ký Công ước Quốc tế về các quyền Dân sự và Chính trị vào năm 1982, nhưng dường như tình hình nhân quyền tại Việt Nam không có nhiều cải tiến.
Tôi được biết qua nhiều nguồn rằng tình hình nhân quyền tại Việt Nam ngược lại đã trở nên tồi tệ hơn.
Thứ năm ngày 24 tháng 5 vừa qua, tổ chức Theo Dõi Nhân Quyền (HRW) cho biết là bốn nhà hoạt động Công giáo đã bị bắt chỉ vì họ phân phát truyền đơn ủng hộ dân chủ, và đã bị xét xử tại Tòa án Nghệ An theo Điều 88.
Vào năm 2011, toà án Việt Nam sử dụng điều khoản này để buộc tội ít nhất 10 bloggers và các nhà hoạt động khác chỉ vì bày tỏ quan điểm của họ, bao gồm Tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ, bloggers Vi Đức Hồi, Lục Văn Bảy, Hồ Thị Bích Khương, Nguyễn Bá Đăng.
Trong tháng Ba năm 2012, Toà án nhân dân Nghệ An đã kết án hai nhà hoạt động Công giáo khác là Võ Thị Thu Thủy và Nguyễn Văn Thanh, theo Điều 88. Ít nhất thêm 12 bloggers Công giáo và các nhà hoạt động khác, bao gồm cả các blogger nổi tiếng Tạ Phong Tần và Lê Văn Sơn, đang bị giam giữ chờ điều tra hoặc đợi ngày ra tòa.
Trong tháng Tư vừa qua, Tiến sĩ Nguyễn Quốc Quân, một cư dân của California cũng bị bắt giữ khi đến sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất ở Sài Gòn và bị kết tội theo Điều 84 về “khủng bố”. Tiến sĩ Quân là nhà hoạt động dân chủ kiên trì và là thành viên của đảng Việt Tân.
Đúng vậy, chúng ta gọi Việt Nam là nước láng giềng Đông Nam Á, một đối tác thương mại sáng giá, nhưng tôi cảm thấy kinh hoàng trước số lượng người dân hiện đang bị giam giữ tại Việt Nam chỉ vì họ thực thi các quyền cơ bản của con người.
Tôi đề cập đến những người mà tội tành duy nhất là hỗ trợ các nhóm chính trị không được công nhận bởi nhà nước, những người chỉ trích chính sách của chính phủ hoặc kêu gọi dân chủ.
Điều đáng quan tâm là kể từ năm 2002, Úc đã có chín lần đối thoại với Việt Nam về nhân quyền mà lại không có kết quả rõ ràng. Là một đối tác thương mại và nhà tài trợ quan trọng, tôi tin rằng Úc có cả quyền về đạo lý lẫn pháp lý để đòi hỏi Việt Nam phải tuân thủ các nghĩa vụ pháp lý quốc tế của họ.
Chúng ta không cần phải ghi chép lại các vi phạm nhân quyền đã xảy ra; điều chúng ta cần là thấy sự cải tiến xác thực. Chúng ta cần thấy kết quả tích cực thông qua các mối quan hệ giữa chúng ta với Việt Nam.
Ở mức tối thiểu, Úc cùng với cộng đồng quốc tế nên đòi hỏi các cam kết tình nguyện từ chính phủ Việt Nam khi ký kết Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị và Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền, được tôn trọng.
Qua việc đệ đạt Kiến nghị này, tôi kêu gọi chính phủ Úc xem xét lại cuộc Đối thoại Nhân quyền hiện tại với Việt Nam và mời gọi các Nghị viện và Thượng nghị sĩ cùng tham gia.
Tôi ở vị thế may mắn được biết các vi phạm nhân quyền từ các Ban Chấp Hành của Cộng Đồng Người Việt Tự Do tại Úc, Đại tá Võ Đại Tôn, Lm. Paul và Lm. Francis, đài Việt Nam Sydney Radio và đảng Việt Tân.
Những cá nhân và tổ chức này thể hiện lòng tha thiết và dấn thân trong việc cải thiện tình hình nhân quyền tại Việt Nam và tôi chào đón những đóng góp xây dựng của họ trong cuộc đối thoại như vậy.
Tôi tin chắc rằng chính phủ sẽ phải xem xét các vấn đề nhân quyền tại nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khi phân phối ngân quỹ theo chương trình viện trợ phát triển của Úc ở nước ngoài.
Và tôi tin là chính quyền Úc nên cổ vũ cho phương thức "toàn bộ chính quyền" với những quan hệ song phương và đa phương với Việt Nam, nhất là những vấn đề liên quan đến nhân quyền.
Tôi luôn có sự tôn trọng và ngưỡng mộ đối với người bảo vệ nhân quyền. Là đại diện cử tri vùng Fowler, tôi được may mắn kết bạn với một số những người nam và nữ anh hùng.
Hai người mà tôi muốn đặc biệt đề cập đến là Đại tá Võ Đại Tôn và Bác sĩ Nguyễn Mạnh Tiến. Những người này đã không chỉ đóng góp to lớn trong lĩnh vực nhân quyền mà rộng hơn cho cộng đồng Úc.
Tôi cũng muốn đề cao sự đóng góp của Lm. Lý, ông đã bị tổng cộng 15 năm tù giam từ năm 1977 vì cuộc đấu tranh của ông cho tự do tôn giáo, dân chủ và nhân quyền.
Theo tổ chức Theo Dõi Nhân Quyền (HRW), Lm. Lý đã lại bị vào tù vào cuối tháng 7 năm 2011 và bị kết án thêm 5 năm tù, và tiếp theo là 5 năm quản chế. Có sự lo ngại sâu sắc về sức khỏe của Lm. Lý khi ông bị đột qụy 3 lần trong khi bị biệt giam trong năm 2009 và cũng bị một khối u não. Tôi đã có dịp nói chuyện với Lm. Lý trong quá khứ thông qua sự hỗ trợ của đài Việt Nam Sydney Radio và rất cảm phục sự cống hiến của ông đối với vấn đề nhân quyền.
Vào tháng 3 đầu năm nay, tôi đã tỏ lòng cảm phục đến gia đình của những người bảo vệ nhân quyền: những người chồng, người vợ, người mẹ, người cha, người con của những người cam đảm bị ảnh hưởng nặng nề không chỉ vì bị khước từ các quyền con người, mà còn bị thất vọng não nề bởi một hệ thống pháp luật không tôn trọng công lý và công bằng đối với những người dám lên tiếng.
Việc tuyên dương những người bảo vệ nhân quyền là điều quan trọng, nhưng việc ghi nhận vai trò gia đình của họ và những khó khăn họ phải chịu đựng trong việc hỗ trợ các người thân yêu của họ cũng không kém phần quan trọng.
Người Việt Nam là một trong những người dũng cảm, có khả năng và rộng lượng nhất mà tôi đã từng gặp. Ba thập kỷ trước, họ đã cho thấy lòng can đảm to lớn khi rời khỏi quê nhà của họ để tìm kiếm một cuộc sống tốt đẹp hơn.
...cộng đồng Việt Nam vùng Đông Nam Sydney quyên góp được hơn $450.000 giúp nạn nhân trong trận lũ lụt Queensland.
Những người định cư ở Úc đã cho thấy khả năng tuyệt vời qua những gì họ đã đạt được. Người Việt Nam cũng đã chứng tỏ lòng quảng đại, đóng góp tích cực cho cộng đồng Úc, không chỉ trong việc chia sẻ với chúng ta qua các món ăn và các lễ hội văn hóa, mà còn là tiên phong trong việc giúp đỡ đồng bào Úc.
Điển hình những nỗ lực gây quỹ sau sự tàn phá của lũ lụt Queensland cho thấy mức độ của lòng rộng lượng của cộng đồng Việt Nam.
Một người bạn tốt của tôi, Bác sĩ Liêu Vĩnh Bình, nói với tôi về một ngụ ngôn Việt Nam, dịch đại ý là “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”. Ông nói với tôi rằng trong vòng 37 năm qua, Úc đã bảo vệ và hỗ trợ cho rất nhiều gia đình Việt Nam khi họ gặp khó khăn và cần sự giúp đỡ.
Bây giờ, nhìn thấy đồng bạn người Úc gặp khó khăn thì đây được xem như là một trách nhiệm để người Việt Nam hồi đáp. Cộng đồng Việt Nam vùng Đông Nam Sydney đã quyên góp được hơn $450.000 giúp nạn nhân trong trận lũ lụt Queensland.
Rõ ràng, sự rộng lượng và tấm lòng của cộng đồng Việt Nam là phi thường.
Tôi tin rằng thách thức lớn đối với chính phủ Việt Nam là xem người dân là nguồn tài nguyên quý giá nhất. Cho đến nay, dường như chính phủ Việt Nam đã không có đủ niềm tin và can đảm để làm như vậy. Điều này đem tôi trở lại với Kiến nghị của tôi.
Qua cuộc đối thoại Nhân Quyền Việt Nam với sự giám sát của thành viên Quốc hội, thượng nghị sĩ và cộng đồng rộng lớn hơn, vi phạm nhân quyền tại Việt Nam có thể được kiểm soát và thảo luận một cách thường xuyên và thích hợp hơn.
Tôi tin rằng cần phải có nhiều cơ hội hơn cho các nhóm cộng đồng như VCA để nêu lên trực tiếp đến chính phủ Úc những quan tâm về nhân quyền.
Hơn nữa, qua cách chú trọng các vấn đề nhân quyền khi phân bố ngân quỹ cho chương trình tài trợ phát triển nước ngoài của Úc, chúng ta nhấn mạnh tầm quan trọng của nhân quyền cho chính phủ Úc, đó cũng là lý do tại sao chúng ta nên áp lực chế độ Việt Nam tôn trọng các Hiệp định quốc tế mà họ đã tình nguyện ký kết.
Là một nước dân chủ, chúng ta có quyền tự do bày tỏ quan điểm, chỉ trích chính phủ và hành lễ tôn giáo. Mặc dù có những khác biệt, việc công nhận quyền của một cá nhân là những gì liên kết chúng ta lại.
Úc có một vai trò hàng đầu trong khu vực về việc đeo đuổi quyền con người và chúng ta nên tự hào về điều đó. Chúng ta đã có một vai trò hàng đầu trong việc phát triển thương mại ở các nước láng giềng như Việt Nam. Một lần nữa, đó là điều chúng ta nên tự hào. Khi làm như vậy, chúng ta cần phải đi xa hơn.
Thay vì chỉ dùng lời nói, chúng ta nên yêu cầu các quốc gia đã ký Công ước Quốc tế về các Quyền dân sự và Chính trị, không những chỉ tôn trọng tinh thần của Công ước cho các mục đích thương mại mà còn tôn trọng mỗi một điều khoản trong đó, đặc biệt là những điều áp dụng cho con người và quyền tự do.
Tôi nói ra không phải là tiêu cực vì tôi nhận ra rằng chiến tranh đã tàn phá Việt Nam trên phương diện ấy. Tuy nhiên tôi nói ra với một tấm lòng. Như tôi đã thường xuyên nói, Việt Nam có một tiềm năng lớn để đạt được nhiều thành quả trong thế giới hiện đại.
Tuy nhiên để đạt được điều này cũng như để đạt được sự công nhận quốc tế thích đáng, bước đầu tiên là cần chứng tỏ một sự tôn trọng chân thật các quyền con người cơ bản cho chính người dân của họ.
Tôi cảm ơn Cộng Đồng Người Việt tại Úc, các nhà lãnh đạo cộng đồng, Chủ tịch Liên bang Phong Nguyễn, Chủ tịch NSW Nguyễn Thanh, Chủ tịch ACT Lê Công cùng với các thành viên còn lại của các Ban Chấp Hành.
Tôi cảm ơn các linh mục Công giáo: Lm. Phanxicô và Lm. Paul Văn Chi, đảng Việt Tân, Đài Việt Nam Sydney Radio, Đại tá Võ Đại Tôn và nhiều thành phần đã nêu cho tôi vấn đề nhân quyền
Tình thương của người Úc gốc Việt dành cho quê cha đất tổ của họ và ước vọng cho một nước Việt Nam tương lai tốt đẹp hơn thật là một điều đầy cảm hứng. Tôi mong được nhìn thấy một nước Việt Nam tương lai với các quyền căn bản con người được tôn trọng.
Nguon: chrishayesmp.com
![]() |
| Courtesy of Blog HungViet - Chị Hồ Thị Bích Khương (áo trắng) con trai Nguyễn Trung Đức và bà chị Hồ Thị Lan ảnh chụp năm 2009. |
Tòa án tối cao thành phố Vinh, tỉnh Nghệ an đã diễn ra phiên tòa phúc thẩm xử Bà Hồ thị Bích Khương và Mục sư Nguyễn Trung Tôn.
Y án sơ thẩm
Vào lúc 10.30 sáng 30 tháng 5 năm 2012, tại Vinh, thành phố Nghệ An, tòa án tối cao đã mở phiên phúc thẩm để xử bà Hồ thị Bích Khương, người từng giúp dân oan và viết nhiều bài báo chống tham nhũng và Mục sư Nguyễn Trung Tôn.
Hiện diện trong phiên tòa là bà Nguyễn thị Lành, vợ Mục sư Nguyễn Trung Tôn, ông Nguyễn Viết Thịnh, chấp pháp hội thánh Tin Lành, bà Hồ thị Lan, chị của bà Hồ thị Bích Khương và luật sư bào chữa cho cả hai là luật sư Hà Huy Sơn.
Bà Nguyễn thị Lành cho biết diễn tiến phiên tòa như sau:
“Thường thì các phiên tòa giết người xử trước, các phiên chính trị xử sau. Phiên chính trị thì 10.04 giờ VN, đến 12 giờ thì họ đình phiên tòa . Đến 2 giờ chiều thì tiếp tục đến 4 giờ chiều kết thúc. Phiên tòa rất chi là kéo dài: 4 tiếng.”
Dù có sự bào chữa của luật sư, bản án phúc thẩm vẫn y án sơ thẩm : bà Hồ thị Bích Khương 5 năm với 3 năm quản chế và Mục sư Nguyễn Trung Tôn 2 năm với 2 năm quản chế. Bà Lành cho biết tiếp:
“Luật sư bào chữa cho phiên tòa đã vạch ra cho thấy ông Tôn với chị Khương là không làm điều gì sai cả, luật sư nói họ đúng hết, họ không có gì làm sai mà kết tội cho hai bị cáo này. Luật sư Sơn nói hai người này không có tội mà họ vẫn kết án anh Tôn 2 năm tù và 2 năm quản chế ở nhà. Chị Khương 5 năm và 3 năm quản chế ở nhà.”
Tường An: Hiện MS Tôn và bà Khương bị giam ở đâu ạ?
Bà Lành: Mục sư Tôn bị giam ở tỉnh Nghệ an, trại đó là trại tạm giam, nhưng bây giờ thành trại tù rồi.”
Tường An: Bà thấy tình trạng Mục sư Tôn như thế nào? Và trong phiên tòa, bà có cơ hội nói chuyện với mục sư không ạ?
Bà Lành: “Chuẩn bị vào phần kết thúc phiên tòa để tuyên án hai người thì họ bố trí để nói chuyện một lúc, tọa đàm xong mới tuyên án thì lúc đó tôi mới được nói chuyện với anh ấy. Nói chung là nói về những công việc của gia đình. Nhìn anh ấy thì gầy nhưng tinh thần anh ấy nói chung thì rất là tốt. Những bài viết của anh ấy và chị Khương thì vạch ra những đường lối sai trái của Đảng và nhà nước VN. Họ không chống lại nhà nước VN nhưng họ lên tiếng cho những người dân thấp cổ bé họng cũng như những người dân nói nhưng bị khống chế. Tôi thấy tiếng nói của hai người rất chi là tốt. Hôm nay tranh luận ở phiên tòa thì rất là tốt.”
Tường An: Bà nghĩ sao về kết quả bản án của phiên tòa này?
Bà Lành: “Sơ thẩm và phúc thẩm chẳng có sai chệch gì cả, nó không có giảm mà nó còn kết tội hai con người này nữa nên tôi nghĩ rằng sự bất công của người dân, những người đại diện cho những người dân oan như chồng tôi là Nguyễn Trung Tôn và chị Hồ thị Bích Khương. Tôi thấy đó là những tấm lòng đấu tranh rất chi là tốt. Tôi rất khâm phục. Tôi cũng là một người vợ nhưng mà đối với tôi, một tấm lòng muốn thay đổi một chế độ độc tài cho người dân thấp cổ bé họng đỡ phải khổ. Nhưng đơn khiếu nại, khiếu kiện, đơn thư của gia đình tôi là gia đình tôn giáo họ cũng đâu có trả lời gì đâu! Họ còn tiếp tục lũng đoạn gia đình nhà tôi nữa”
Tường An: Riêng mục sư Tôn có được quyền tự bào chữa không ạ?
Bà Lành: “Chồng tôi nói là chúng tôi không chấp nhận phiên tòa hôm nay là cho chúng tôi vào điều 88. Chúng tôi không tuyên truyền chống phá nhà nước VN, chúng tôi chỉ muốn thay đổi cái chế độ ngày hôm nay cho đất nước cho dân tộc, chúng tôi có tinh thần yêu đất nước, yêu dân tộc chúng tôi mới làm những điều như thế, còn bắt chúng tôi vào đây để kết tội chúng tôi thì chúng tôi phải chịu thôi.”
Tình trạng sức khỏe bà Khương
Bà Hồ thị Lan, chị của bà Hồ thị Bích Khương, mặc dù trong gia đình có nhiều người đang bệnh và bản thân bà cũng đang bệnh, nhưng bà cũng cố gắng trả lời chúng tôi. Bà Lan cho biết tình trạng của bà Hồ thị Bích Khương như sau:
“Tôi thấy tình trạng chị Khương hiện nay là rất nguy hiểm, người ốm, ho và cứ ôm bụng đau, gương mặt thất thần và da mặt bầm tím tái, tôi không biết em tôi đã bị bệnh gì và cuối cùng ra về thì em tôi có nói to: “Sau khi xử 5 ngày, nếu như mà em không được đi viện thì chị hãy xuống gặp em” có nói như thế thôi.”
Bà Hồ thị Lan, chị của bà Hồ thị Bích Khương, mặc dù trong gia đình có nhiều người đang bệnh và bản thân bà cũng đang bệnh, nhưng bà cũng cố gắng trả lời chúng tôi. Bà Lan cho biết tình trạng của bà Hồ thị Bích Khương như sau:
“Tôi thấy tình trạng chị Khương hiện nay là rất nguy hiểm, người ốm, ho và cứ ôm bụng đau, gương mặt thất thần và da mặt bầm tím tái, tôi không biết em tôi đã bị bệnh gì và cuối cùng ra về thì em tôi có nói to: “Sau khi xử 5 ngày, nếu như mà em không được đi viện thì chị hãy xuống gặp em” có nói như thế thôi.”
Tường An: Bà Hồ thị Bích Khương bị xử 5 năm tù và 3 năm quản chế, bà nghĩ sao về bản án này ạ?
Bà Lan : «Nói chung là không đúng! Theo tôi nhận định là không đúng ! Vì tôi nói thật, nếu như con người mà không có quyền nói lên những cái gì mình thấy và những cái gì mình biết thì đó cũng chẳng phải là con người nữa . Thực tế xã hội hiện này là tham nhũng, oan sai rất nhiều.
Người dân bức xúc, họ nói chị Khương thế này thế kia, nhưng tôi nghĩ là người dân bức xúc mà chẳng dám nói ra. Họ nói chị Khương nói cái gì cũng đúng, nhưng không ai dám nói ra những điều chị Khương nói. Ở đây họ nhận định như thế, mà nhiều người họ nói với tôi là chị Khương dại.
Riêng bản thân tôi, chồng tôi bị tai nạn giao thông từ năm 2000 mà tòa án đã tuyên án, chúng tôi đã làm đơn hết nơi này đến nơi khác nhưng cuối cùng tôi phải bỏ cả cái xác của chồng tôi vì tôi không dám liên quan đến công an và luật pháp nữa. Sợ mình bức xúc nên rồi họ lại bỏ tù tôi nữa thì sao!»
Biện hộ cho bà Hồ thị Bích Khương và mục sư Nguyễn Trung Tôn là luật sư Hà Huy Sơn, có mặt trong phiên tòa phúc thẩm hôm nay, luật sư Hà Huy Sơn cho biết :
«Phiên phúc thẩm thì không khác gì nhiều với phiên sơ thẩm, tức là bà Khương và ông Tôn thì khẳng định là họ không phạm tội tuyên truyền chống nhà nước XHCN VN. Nhưng chứng cứ đưa ra thì cũng không được rõ ràng lắm nhưng mà bên đại diện luật pháp thì họ dẫn ra những chứng cứ nói xấu Đảng và nói xấu lãnh đạo đảng nên cuối cùng thì người ta vẫn y án sơ thẩm.»
Người dân bức xúc, họ nói chị Khương thế này thế kia, nhưng tôi nghĩ là người dân bức xúc mà chẳng dám nói ra. Họ nói chị Khương nói cái gì cũng đúng, nhưng không ai dám nói ra những điều chị Khương nói. Ở đây họ nhận định như thế, mà nhiều người họ nói với tôi là chị Khương dại.
Riêng bản thân tôi, chồng tôi bị tai nạn giao thông từ năm 2000 mà tòa án đã tuyên án, chúng tôi đã làm đơn hết nơi này đến nơi khác nhưng cuối cùng tôi phải bỏ cả cái xác của chồng tôi vì tôi không dám liên quan đến công an và luật pháp nữa. Sợ mình bức xúc nên rồi họ lại bỏ tù tôi nữa thì sao!»
Biện hộ cho bà Hồ thị Bích Khương và mục sư Nguyễn Trung Tôn là luật sư Hà Huy Sơn, có mặt trong phiên tòa phúc thẩm hôm nay, luật sư Hà Huy Sơn cho biết :
«Phiên phúc thẩm thì không khác gì nhiều với phiên sơ thẩm, tức là bà Khương và ông Tôn thì khẳng định là họ không phạm tội tuyên truyền chống nhà nước XHCN VN. Nhưng chứng cứ đưa ra thì cũng không được rõ ràng lắm nhưng mà bên đại diện luật pháp thì họ dẫn ra những chứng cứ nói xấu Đảng và nói xấu lãnh đạo đảng nên cuối cùng thì người ta vẫn y án sơ thẩm.»
Sau khi xử 5 ngày, nếu như mà em không được đi viện thì chị hãy xuống gặp em. Bà Bích Khương nói với Bà Hồ thị Lan
Tường An : Về phần luật sư thì luật sư đã dùng những lập luận như thế nào để biện hộ cho hai bị cáo ạ ?
LS Hà Huy Sơn : «Chị Khương và anh Tôn cũng được lên tiếng, nói chung là cũng nói được đầy đủ. Không bị hạn chế gì nhiều. Tôi dựa vào, thứ nhất là thủ tục tố tụng có những vi phạm nghiêm trọng thì tôi cũng đã trình bày, thứ hai là chứng cứ nó không đảm bảo tính khách quan, không hợp pháp. Tôi cho rằng những chứng cứ mà bên đại diện luật pháp đưa ra để cáo buộc hai người này là không thể chấp nhận được tức là nó không hợp pháp. Tôi đề nghị là vô tội. Thế còn một lập luận nữa mà tôi có đưa ra để bảo vệ ông Tôn, bà Khương đó là các vị đó thực hiện khoản A điều 19 của công ước dân sự và chính trị trong công ước quốc tế do do Liên Hiệp Quốc thông qua năm 1966 mà VN đã tham gia năm 1982. Đấy là hai vấn đề cơ bản mà tôi dùng để bảo vệ hai vị ấy. »
Bản án được định sẵn?
Tường An : Thưa luật sư, so với các phiên tòa khác thì phiên tòa này có phần nào tiến bộ, có nghĩa là phiên tòa kéo dài hơn và bị can được quyền lên tiếng bào chữa cho mình. Tuy nhiên, dù bị can hay luật sư bào chữa như thế nào thì bản án thì vẫn không thay đổi. Điều này làm cho người ta có thể nghĩ rằng việc bào chữa chỉ là hình thức và có vẻ như là bản án đã được định sẵn, Luật sư nghĩ gì về nhận định này ạ ?
Tường An : Thưa luật sư, so với các phiên tòa khác thì phiên tòa này có phần nào tiến bộ, có nghĩa là phiên tòa kéo dài hơn và bị can được quyền lên tiếng bào chữa cho mình. Tuy nhiên, dù bị can hay luật sư bào chữa như thế nào thì bản án thì vẫn không thay đổi. Điều này làm cho người ta có thể nghĩ rằng việc bào chữa chỉ là hình thức và có vẻ như là bản án đã được định sẵn, Luật sư nghĩ gì về nhận định này ạ ?
LS Hà Huy Sơn: “Đúng như là chị nói, cái chuyện đối đáp giữa luật sư và đại diện luật pháp cũng không được ông chủ tọa thực hiện nghiêm túc cho lắm. Tức là gọi là đối đáp để cho có hình thức thôi chứ còn không làm rõ từng vấn đề ra và thời gian đối đáp thì ông ấy cũng hạn chế cho nên phần nào nó cũng thể hiện chuyện phiên tòa có một sự chuẩn bị trước. Người ta cũng không căn cứ vào chuyện tranh tụng tại tòa để mà nghị án.”
Hiện tình trạng gia đình của bà Tôn rất khó khăn, bà tâm sự:
“Cám ơn chị đã quan tâm đến gia đình tôi. Bố Mẹ chồng tôi thì già, Bố thì bị bệnh phổi mãn tính, tôi là vợ thì cũng có trách nhiệm , Bố nằm việ thì tôi cũng phải đi nuôi. Ngoài ra tôi còn phải vất vã nuôi ba đứa con, một đứa đã vào đại học , còn hai đứa, một đứa thì còi, chậm phát triển về chiều cao, trí tuệ, nói chung là suy dinh dưỡng, còn đứa thứ ba thì mới 3 tuổi rưởi. Hoàn cảnh này thì anh Đài cũng biết cho nên anh ấy quan tâm và động viên tôi trong hoàn cảnh này, tôi cũng cảm ơn anh ấy và cảm ơn nhiều người lắm ạ.
Chuyện đối đáp giữa luật sư và đại diện luật pháp cũng không được ông chủ tọa thực hiện nghiêm túc cho lắm.Người ta cũng không căn cứ vào chuyện tranh tụng tại tòa để mà nghị án. LS Hà Huy Sơn
Tôi cũng mong là đài RFA và những người ở nước ngoài cũng giúp cho đất nước ra khỏi cơn khổ ải này, đấu tranh cho những người như chị Bích Khương và những người tù chính trị ngày hôm nay”
Xin được nhắc lại, tháng tư năm 2007, bà Hồ thị Bích Khương bị bắt lần đầu tại một quán cà phê Internet ở Nghệ An và bị xử hai năm tù vì tội “lạm dụng tự do dân chủ xâm phạm lợi ích nhà nước” theo Điều 258 của bộ luật hình sự.
Sau đó vào ngày 15 tháng 1 năm 2011, bà Hồ Thị Bích Khương bị bắt lần thứ hai tại Nam Đàn, Nghệ An. Vào 17/01/2011, công an đến khám xét nhà MS Tôn ở Thanh Hóa và bắt ông để « kiểm tra thủ tục hành chính » . Cả hai bị ra tòa sơ thẩm vào ngày 29/12/2011 với bản án 5 năm tù và 3 năm quản chế cho bà Hồ thị Bích Khương, 2 năm tù và 2 năm quản chế cho MS Nguyễn Trung Tôn về tội tuyên truyền chống nhà nước CHXHCNVN theo điều 88 bộ luật hình sự VN.
Phiên tòa phúc thẩm lẽ ra diễn ra ngày 28/3 vừa qua, nhưng đã bị hoãn lại cho đến hôm nay. Bà Hồ thị Bích Khương là 1 trong 4 cây bút VN đã được trao giải Hellman Hammet năm 2011.
Hiện tình trạng gia đình của bà Tôn rất khó khăn, bà tâm sự:
“Cám ơn chị đã quan tâm đến gia đình tôi. Bố Mẹ chồng tôi thì già, Bố thì bị bệnh phổi mãn tính, tôi là vợ thì cũng có trách nhiệm , Bố nằm việ thì tôi cũng phải đi nuôi. Ngoài ra tôi còn phải vất vã nuôi ba đứa con, một đứa đã vào đại học , còn hai đứa, một đứa thì còi, chậm phát triển về chiều cao, trí tuệ, nói chung là suy dinh dưỡng, còn đứa thứ ba thì mới 3 tuổi rưởi. Hoàn cảnh này thì anh Đài cũng biết cho nên anh ấy quan tâm và động viên tôi trong hoàn cảnh này, tôi cũng cảm ơn anh ấy và cảm ơn nhiều người lắm ạ.
Chuyện đối đáp giữa luật sư và đại diện luật pháp cũng không được ông chủ tọa thực hiện nghiêm túc cho lắm.Người ta cũng không căn cứ vào chuyện tranh tụng tại tòa để mà nghị án. LS Hà Huy Sơn
Tôi cũng mong là đài RFA và những người ở nước ngoài cũng giúp cho đất nước ra khỏi cơn khổ ải này, đấu tranh cho những người như chị Bích Khương và những người tù chính trị ngày hôm nay”
Xin được nhắc lại, tháng tư năm 2007, bà Hồ thị Bích Khương bị bắt lần đầu tại một quán cà phê Internet ở Nghệ An và bị xử hai năm tù vì tội “lạm dụng tự do dân chủ xâm phạm lợi ích nhà nước” theo Điều 258 của bộ luật hình sự.
Sau đó vào ngày 15 tháng 1 năm 2011, bà Hồ Thị Bích Khương bị bắt lần thứ hai tại Nam Đàn, Nghệ An. Vào 17/01/2011, công an đến khám xét nhà MS Tôn ở Thanh Hóa và bắt ông để « kiểm tra thủ tục hành chính » . Cả hai bị ra tòa sơ thẩm vào ngày 29/12/2011 với bản án 5 năm tù và 3 năm quản chế cho bà Hồ thị Bích Khương, 2 năm tù và 2 năm quản chế cho MS Nguyễn Trung Tôn về tội tuyên truyền chống nhà nước CHXHCNVN theo điều 88 bộ luật hình sự VN.
Phiên tòa phúc thẩm lẽ ra diễn ra ngày 28/3 vừa qua, nhưng đã bị hoãn lại cho đến hôm nay. Bà Hồ thị Bích Khương là 1 trong 4 cây bút VN đã được trao giải Hellman Hammet năm 2011.
RFA
Cách đây 2000 năm, đất Do Thái đã trở nên Đất Thánh vì Chúa Giêsu sinh tại đó và cũng đã chết tại nơi ấy. Đó là những kỷ niệm linh thiêng mà người Kitô hữu thao thức đến viếng đất Thánh đó.
Ngày xưa đi viếng đất Thánh là chấp nhận nhiều gian khổ nhọc mệt để đến viếng thăm đất Thánh. Một cuộc hành hương như vậy mới thật là một việc đạo đức đáng giá. Ngày nay với những phương tiện tân thời như máy bay, xe cộ, cuộc hành hương được gói ghém trong một cuộc tham quan các nước trong vòng 15 ngày, không quá cực khổ, nên việc đạo đức cũng có phần nhẹ đi.
Trước biến cố này, tôi lại mơ ước có một cuộc hành hương Đất Thánh trên đất nước Việt Nam do các Giám mục Việt Nam tổ chức.Đúng thế, Việt Nam là một Đất Thánh. Đất Thánh không chỉ vì mấy thế kỷ trước, bao nhiêu vị thừa sai, linh mục, giáo dân đã đổ máu đào vì Chúa Giêsu. Chính Chúa đã chết trong các vị tử đạo đó.
Việt Nam còn là đất Thánh, vì trên quê hương đất nước chúng ta hôm nay, con người Việt Nam nói chung, người Công giáo nói riêng đang đau khổ, bị đày đọa tức là Chúa Giêsu đang đau khổ, đang bị đày đọa, đang tử nạn trong những người ấy.
Hãy đến hành hương những nơi người nông dân bị chế độ cộng sản bóc lột, không còn nhà ở, không còn đất canh tác, không có công ăn việc làm, đi đòi công lý thì bị đẩy từ tòa dưới lên tòa trên, từ tòa trên xuống tòa dưới.
Họ là những nông dân cách đây mấy năm từ các tỉnh Tiền Giang, An Giang, Kiên Giang, Bình Định, Bình Phước, Mỹ Tho, Bến Tre, Long An, Bà Rịa – Vũng Tàu đi đòi công lý. Và dân oan đó vẫn tiếp tục sống trong nghèo đói. Đó là Chúa Giêsu đang bị bóc lột trong đám dân oan đó.
Qua cuộc hành hương, là sẽ dùng tiến của nâng đỡ họ, tức là nâng đỡ Chúa Giêsu.Hãy đến với những nông dân huyện Văn Giang, Hưng Yên, bị cướp đất ruộng của họ để làm khu đô thị Ecopark.Hãy đi hành hương nơi các nhà tù, nhà giam những người yêu nước. Chính Chúa Giêsu bị đày đọa trong thân xác và tâm hồn những người yêu nước, vì lý do duy nhất là họ sử dụng ôn hòa và chính đáng các quyền tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, tự do báo chí và tự do tôn giáo.
Bao nhiêu người vì công lý và hòa bình đang khắc khoải, mòn mỏi, tiêu hao trong các nhà giam, nhà tù của cộng sản. Trong những nạn nhân ấy, chính Chúa Giêsu đang bị đày đọa. Giáo hội Công giáo nên tổ chức hành hương ở những nơi ấy.Hãy đi hành hương trên Tây Nguyên, nơi mà đảng cộng sản đã trao cho đảng cộng sản Trung Quốc khai thác bauxite, một việc làm hại đến cả dân tộc, cả thế hệ con cháu sau này sẽ gánh chịu hậu quả bi đát do sự hèn nhát câm lặng của thế hệ trước. Đó là nơi Chúa Giêsu đang tử nạn.Hãy đi hành hương ở Thái Hà là nơi nhiều tín hữu dầm mưa giãi nắng, chấp nhận bao nhiêu thiệt thòi cho bản thân, cho gia đình, bất chấp bao phiền nhiễu, có người bị đánh đập, phải mang thương tích, phải ngồi tù. Chính Chúa Giêsu đau khổ trong những người hy sinh cho Giáo Hội.
Đây cũng là Đất Thánh Chúa Giêsu đang tử nạn.Hãy đi hành hương ở xứ đạo Tam Tòa là nơi 20 giáo dân bị công an đánh đập tàn nhẫn, bị giam giữ. Chính Chúa Giêsu đã bị đánh đập trong các giáo dân đó.
Hãy đi hành hương ở Thánh địa Đồng Chiêm, nơi cộng sản điều động hàng ngàn công an, với chó nghiệp vụ và đủ loại vũ khí, rồi dùng hóa chất để cho nổ tung cây Thập giá, cố tình xúc phạm biểu tượng thiêng liêng của Kitô giáo.
Cuộc hành hương này trên đất Việt Nam sẽ đem lại nhiều an ủi cho người đau khổ, đem nhiều ơn thiêng cho người đi hành hương và ít tốn kém và dâng tiền của nâng đỡ những nạn nhân đó, tức là đến với Chúa Giêsu tử nạn trên Đất Thánh Việt Nam.Tôi chắc rằng cuộc hành hương này làm đẹp lòng Chúa Giêsu đang đau khổ và chết với dân tộc Việt Nam, với người Công giáo Việt Nam.
Mơ ước của tôi thấy có những cuộc hành hương trên Đất Thánh Việt Nam sẽ là hiện thực khi mỗi Giáo phận, Giám mục sẽ tổ chức những cuộc hành hương, mỗi xứ đạo tổ chức những cuộc hành hương trên Đất Thánh Việt Nam, nơi mà hiện nay Chúa Giêsu đang ngồi tù trong các trại giam, nơi Chúa Giêsu đang bị bóc lột, đang bị đánh đập, đang bị tra tấn, đang phải chết tức tưởi.
Cuộc hành hương này sẽ làm tỉnh thức lương tâm con người Việt Nam và làm đẹp lòng Chúa Giêsu hơn mọi cuộc hành hương khác, kể cả cuộc hành hương Đất Thánh tại nước Do Thái.
Cuộc hành hương hùng hậu 92 người tại Đất Thánh ở nước Do Thái sẽ lừa dối Vatican là Việt Nam có tự do tôn giáo. Chế độ cộng sản Việt Nam rất muốn các tôn giáo có những lễ hội rầm rộ để che mắt thiên hạ về những vi phạm nhân quyền và không có tự do tôn giáo.
Còn những cuộc hành hương Đất Thánh trên nước Việt Nam sẽ chứng minh đất nước này không có tự do tôn giáo, không có tôn trọng nhân quyền.Và nhà nước cộng sản sẽ làm khó dễ những cuộc hành hương Đất Thánh Việt Nam.
Có khó mới có công để làm vinh danh Chúa Giêsu đang tử nạn trên đất nước này và đánh thức lương tâm người Việt Nam.
Lm. Chân Tín DCCT
Nguồn: VRNs
Ở Việt Nam thời Cộng sản, tham nhũng nhiều hơn cơm áo và kẻ sẵn sàng phạm pháp để tham nhũng nhiều hơn người tình nguyện xuống đường chống Trung Cộng âm mưu chiếm lãnh thổ và biển đảo.
Đó là thực tế đau buồn và phũ phàng, nhưng đang diễn ra từng phút ở mọi nơi, kể cả ở những vùng dân phải liều chết để giữ đất không rơi vào tay bọn quan tham và tay sai của tài phiệt.
Nhưng tại sao ở một đất nước có nhiều anh hùng vang danh giữ nước và dựng nước và có một dân tộc kiên cường bất khuất trước giặc ngọai xâm mà lại đang thua trước giặc nội thù ?
Đơn giản vì nhà nước bất lực. Những đảng viên Cộng sản may mắn được ngồi vào ghế lãnh đạo, nếu không tham nhũng thì cũng dung dưỡng kẻ tham nhũng để được ngồi yên hưởng thụ.
Luật lệ, nghị quyết, quyết định, nghị định phòng – chống tham nhũng, lãng phí, kê khai tài sản và cấm đảng viên không được làm chất cao hơn núi nhưng chỉ thấy nói mà không làm. Và nếu có làm thì cũng chỉ làm cho có lệ, phải phép nay người mai ta, đồng chí, đồng đội với nhau ai nỡ làm khó nhau làm gì để còn nhìn nhau nữa chứ ?
Vì vậy tham nhũng chỉ ở đâu đâu chứ đơn vị mình thì tuyệt nhiên không có ai tham nhũng cả. Mọi đồng chí đều sạch trơn từ thân thể đến quần áo, không hề tơ hào một xu tiền của dân. Qu của nhà nước sổ sách phân minh, biên lai biên nhận chi, thu không mất đi đâu một xu nên năm nào đảng bộ cũng đạt ’’cờ chiến thắng” hay ”đơn vị tiến tiến gương mẫu”.
Tuy nhiên những người đứng đầu lại không sao giải thích được tại sao lương cán bộ mà nhiều đồng chí của đơn vị mình lại có nhà lầu máy lạnh, xe hơi láng coóng, tiệc tùng đãi nhau linh đình, có tiền gửi con du học nước ngoài mỗi năm tốt vài chục ngàn đô là ít?
Đó là lý do tại sao đơn vị, đảng ủy nào cũng ”thành tích” nhiều hơn ”thành công”, ấy là chưa kể những chuyện liên hệ dây mơ, rễ má như ”người cùng huyện”, ”học cùng trường”, ”có bố, có ông cố, ông kỵ biết nhau từ thời đi kháng chiến chống Tây, chống Mỹ” v.v... nên mọi cách, mọi kiểu tham nhũng dù rắc rối, nhiêu khê đến đâu cũng thành chuyện hòa cả làng, dĩ hòa vi qúy làm cho mọi người đều vui vẻ cả.
Vì vậy, bất kỳ hội nghị hay đại hội nào có dính đến đảng là tình trạng tham nhũng lại được nhắc lại ”vẫn còn nghiêm trọng”!
Đó cũng là điều mà ông Nguyễn Xuân Phúc, Phó Thủ tướng đã báo cáo tại Kỳ họp Quốc hội khai mạc hôm 21/05 (2012) tại Hà Nội rằng: ”Tham nhũng vẫn còn nghiêm trọng với những biểu hiện tinh vi, phức tạp xảy ra trên nhiều lĩnh vực, tình trạng lãng phí còn rất lớn”, mặc dù ông này cũng không quên khoe ”Công tác cải cách hành chính, phòng, chống tham nhũng, giải quyết khiếu nại tố cáo được quan tâm chỉ đạo từ Trung ương đến cơ sở và tiếp tục có những chuyển biến tích cực.”
Lạ chưa? Đã ”có những chuyển biến tích cực” mà “vẫn còn nghiêm trọng” trong công tác phòng, chống tham nhũng thì chắc là tiếng Việt đã “hết nghĩa” rồi chăng?
Hay nên hiểu khi đảng nói có “chuyển biến” là “đã thụt lùi tệ hại hơn”?
THAM NHŨNG QUA TỪNG GIAI ĐOẠN:
Đúng là như thế. Bởi vì từ ngày 02/02/1999, Hội nghị Trung ương 6 (lần 2) của khóa đảng VIII thời Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu đã đưa ra Nghị quyết “Về một số vấn đề cơ bản và cấp bách trong công tác xây dựng Đảng hiện nay”.Khi nói về vấn đề tham nhũng trong đảng, nghị quyết này đã viết rằng: “Trước yêu cầu mới ngày càng cao của sự nghiệp cách mạng, trong Đảng đang bộc lộ một số yếu kém: sự suy thoái về tư tưởng chính trị; tình trạng tham nhũng, quan liêu, lãng phí của một bộ phận cán bộ, đảng viên có chiều hướng phát triển nghiêm trọng hơn. Việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ không nghiêm, bộ máy tổ chức của Đảng và Nhà nước chậm được củng cố và đổi mới. Để đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đẩy rmạnh CNH, HĐH đất nước, Đảng phải có biện pháp phát huy ưu điểm, kiên quyết sửa chữa các khuyết điểm, tiếp tục củng cố, chỉnh đốn, để ngày càng vững mạnh về mọi mặt, đặc biệt là về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, tổ chức và cán bộ.”
Đến ngày 19 tháng 11 năm 2005 Luật Phòng, Chống Tham Nhũng ra đời xác định rằng: “Tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi.
Người có chức vụ, quyền hạn bao gồm:
a) Cán bộ, công chức, viên chức;
b) Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn - kỹ thuật trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân;
c) Cán bộ lãnh đạo, quản lý trong doanh nghiệp của Nhà nước; cán bộ lãnh đạo, quản lý là người đại diện phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp;
d) Người được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ có quyền hạn trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ đó.”
Nói cách khác, tất cả những ai “có chức, có quyền” đều có cơ hội tham nhũng.
Nhưng thế nào là tham nhũng thì được quy định tại Điều 3. Nói về “Các hành vi tham nhũng” bao gồm:
1. Tham ô tài sản.
2. Nhận hối lộ.
3. Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản.
4. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi.
5. Lạm quyền trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi.
6. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng với người khác để trục lợi.
7. Giả mạo trong công tác vì vụ lợi.
8. Đưa hối lộ, môi giới hối lộ được thực hiện bởi người có chức vụ, quyền hạn để giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc địa phương vì vụ lợi.
9. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn sử dụng trái phép tài sản của Nhà nước vì vụ lợi.
10. Nhũng nhiễu vì vụ lợi.
11. Không thực hiện nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi.
12. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để bao che cho người có hành vi vi phạm pháp luật vì vụ lợi; cản trở, can thiệp trái pháp luật vào việc kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án vì vụ lợi.”
Sau khi Nông Đức Mạnh lên thay Lê Khả Phiêu giữ chức tổng bí thư đảng từ Khoá đảng IX năm 2001, tệ nạn tham nhũng, lãng phí trong đảng vẫn “ngang nhiên tự tại” cho nên tại Hội nghị Trung ương 3 của Khoá đảng X, “Nghị quyết về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí” ra đời tái xác nhận rằng : “ Cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí còn nhiều hạn chế,khuyết điểm, hiệu quả thấp. Tham nhũng, lãng phí vẫn diễn ra nghiêm trọng ở nhiều ngành, nhiều cấp, nhiều lĩnh vực với phạm vi rộng, tính chất phức tạp, gây hậu quả xấu về nhiều mặt, làm giảm sút lòng tin của nhân dân, là một trong những nguy cơ lớn đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ ta.”
Thủ phạm của nguy cơ này lại do chính cán bộ, đảng viên của đảng gây ra vì, theo lời Nghị quyết: “Công tác cán bộ nói chung và việc quản lý, giáo dục cán bộ, đảng viên, công chức nói riêng còn yếu kém. Một bộ phận không nhỏ đảng viên, cán bộ, công chức suy thoái về tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống. Không ít cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp, các ngành, kể cả cán bộ lãnh đạo cao cấp, còn thiếu gương mẫu trong việc giữ gìn phẩm chất đạo đức; chưa đi đầu trong cuộc sống đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí và thực hành tiết kiệm. Phòng, chống tham nhũng, lãng phí là nhiệm vụ cực kỳ quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Trong những năm tới, phải đẩy mạnh toàn diện và kiên quyết cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí.”
Và để tiếp tay cho đảng chống “con tham nhũng 3 đầu 6 tay” này, ngày 24/01/2007 nhà nước lại bày ra Ban Chỉ đạo Trung ương về Phòng, chống Tham nhũng (PCTN) để cho Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng Chính phủ làm Trưởng ban.
Nhưng sau 5 năm được mô tả đã dùng nhiều ngón nghề, đòn phép làm sạch đảng và bộ máy nhà nước theo Nghị quyết Trung ương 3 (Khóa đảng X), Nguyễn Xuân Phúc - Phó Thủ tướng, Phó trưởng Ban Chỉ đạo tiếp tục ca bài tiêu cực trong báo cáo tại Hội nghị tòan quốc ngày 07 tháng 03 (2012).
Phúc nói : “Các đơn vị chuyên trách PCTN thuộc Thanh tra Chính Phủ, Viện Kiểm sát nhân tối cao và Bộ Công an được thành lập và đi vào hoạt động từ đầu năm 2007, đã và đang từng bước phát huy hiệu quả, nâng cao chất lượng công tác phát hiện và xử lý vụ việc, vụ án tham nhũng. Tuy nhiên, công tác PCTN chưa đạt được mục tiêu “ngăn chặn, từng bước đẩy lùi tham nhũng…” như Nghị quyết Trung ương 3 (khóa X) đề ra, còn bộc lộ nhiều hạn chế, yếu kém: Một là, nội dung và hình thức tuyên truyền, giáo dục về PCTN chưa phong phú, hấp dẫn, biểu hiện tính hình thức. Hai là, một số cấp ủy, tổ chức đảng chưa kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí; tính chiến đấu, dân chủ, công khai trong tự phê bình và phê bình còn hạn chế; nhiều chi bộ đảng không nắm vững quan hệ xã hội của đảng viên; chưa kịp thời kiểm tra, phát hiện, xử lý những trường hợp có dấu hiệu vi phạm. Ba là, công tác hoàn thiện thể chế về PCTN chưa đáp ứng yêu cầu. Bốn là, việc triển khai thực hiện một số chủ trương, giải pháp phòng ngừa tham nhũng chưa nghiêm túc, hiệu quả thấp. Năm là, công tác phát hiện và xử lý các vụ việc, vụ án tham nhũng còn nhiều hạn chế. Sáu là, hiệu quả hoạt động của các cơ quan, đơn vị chuyên trách về PCTN chưa cao. Bảy là, công tác giám sát về PCTN của Quốc hội và HĐND các cấp chưa thường xuyên, hiệu quả thấp. Tám là, chưa huy động được sức mạnh của cả hệ thống chính trị và của toàn xã hội, nhất là sự tham gia của nhân dân vào công tác PCTN. Chín là, một số nội dung của Nghị quyết Trung ương 3 chưa được tập trung thực hiện…”
Như thế thì cái Ban chỉ đạo Trung ương này đã làm gì, sau khi đã ăn không biết bao nhiều tiền của mồ hôi, nước mắt và hoang phí sức lao động của người dân trong 5 năm qua?
13 NĂM SAU
Hay là từ Nghị quyết 6 (lần 2) thời Lê Khả Phiêu năm 1999 cho đến khi có Hội nghị tòan quốc do Dũng chủ trì tháng 3/2012, tổng cộng là 13 năm mà công tác phòng, chống tham nhũng vẫn dậm chân một chỗ khiến Hội nghị lần thứ 4 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) do Nguyễn Phú Trọng làm Tổng Bí thư đã phải ra Nghị quyết vào ngày 31/12/2011 về “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, không khác gì nội dung của Nghị quyết 6 (lần 2)
Sự ra đời của văn kiện quan trọng này cho thấy đảng CSVN đang lâm nguy rã đám như Nghị quyết đã nhìn nhận: “Bên cạnh kết quả đạt được, công tác xây dựng Đảng vẫn còn không ít hạn chế, yếu kém, thậm chí có những yếu kém khuyết điểm kéo dài qua nhiều nhiệm kỳ chậm được khắc phục, làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng; nếu không được sửa chữa sẽ là thách thức đối với vai trò lãnh đạo của Đảng và sự tồn vong của chế độ.”
Khi nói đến tham nhũng, nghị quyết viết: “Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc...”
5 tháng sau, trong khi tất cả các tổ chức của đảng từ trung ương xuống địa phương, quân đội, công an, báo chí, văn nghệ sỹ chưa nuốt hết chữ của các buổi học tập làm sao phải thi hành cho bằng được chỉ thị của Nghị quyết Trung ương 4 thì ngày 15-05 (2012) Hội nghị Trung ương 5 lại ập đến Nghị quyết mới tiếp tục nói về chuyện chống tham nhũng.
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhìn nhận thêm rằng: “Công tác phòng, chống tham nhũng chưa đạt được yêu cầu "ngăn chặn, từng bước đẩy lùi tham nhũng". Tình trạng tham nhũng, lãng phí vẫn còn nghiêm trọng với những biểu hiện ngày càng tinh vi, phức tạp hơn, gây bức xúc trong xã hội và là thách thức lớn đối với vai trò lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước. Tham nhũng, lãng phí vẫn xảy ra trên nhiều lĩnh vực, ở nhiều cấp, nhiều ngành, nhiều cơ quan, đơn vị, đặc biệt là trong các lĩnh vực và hoạt động liên quan đến đất đai, khoáng sản; đầu tư công; xây dựng cơ bản; quản lý vốn và tài sản của doanh nghiệp nhà nước; tín dụng, ngân hàng; thu chi ngân sách, mua sắm tài sản công; công tác cán bộ; quan hệ giữa cơ quan, cán bộ nhà nước với người dân, doanh nghiệp...”
Vây ai có lỗi không phòng, chống nổi tham nhũng? Tổng Bí thư đảng hay Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương?
Câu trả lời là cả 2 người nói riêng và cả đảng nói chung. Không ai có quyền đổ lỗi cho nhau trước sức chịu đựng đã đến đường cùng của người dân.
Tệ nạn tham nhũng đã biến thành lối sống hàng ngày của cán bộ, đảng viên, nhất là những kẻ có chức có quyền.
Nhưng trong trận thư hùng này, Dũng đã bị mất chức trưởng ban vì, theo thông báo của trung ương đảng thì: “Ban Chấp hành Trung ương quyết định chủ trương thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng trực thuộc Bộ Chính trị do đồng chí Tổng Bí thư làm Trưởng ban. Không thành lập ban chỉ đạo tỉnh, thành phố về phòng, chống tham nhũng; tỉnh uỷ, thành uỷ trực tiếp lãnh đạo công tác phòng, chống tham nhũng. Lập lại Ban Nội chính Trung ương, thực hiện chức năng một ban đảng và là cơ quan thường trực của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng; lập ban nội chính ở các tỉnh uỷ, thành uỷ, giao Bộ Chính trị quyết định cụ thể.”
PHẠM THẾ DUYỆT – GIÁM SÁT
Nhưng liệu sự thay đổi này có hy vọng gì không?
Hãy nghe câu trả lời của Phạm Thế Duyệt, nguyên Chủ tịch Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam : “Nếu ngay bây giờ mà nói rằng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng trực thuộc Bộ Chính trị sẽ làm cho việc này tốt lên là còn chủ quan. Chúng ta đã từng có Ban Chỉ đạo Trung ương 6 (lần 2) khóa VIII – cũng là cơ quan thường trực của Đảng về phòng chống tham nhũng tiêu cực đấy chứ. Vậy nên điều quan trọng và cần thiết bây giờ là sự quyết tâm, thể hiện ở sự kiên quyết, đấu tranh trong nội bộ Đảng và cấp ủy các cấp. Trong sinh hoạt Đảng phải luôn luôn coi việc phòng chống tham nhũng là một vấn đề quan trọng, đảng viên đi trước, làng nước theo sau. Vấn đề đặt ra ở đây là làm sao trên nghiêm, dưới theo, nhà mà nóc không dột, dưới sẽ ổn định...” (Báo Đại Đòan Kết, ngày 20-05-2012)
Đúng vậy. Nhưng căn nhà tham nhũng của đảng CSVN bây giờ có còn chỗ nào không rách nát tả tơi?
Chính Duyệt cũng đã thừa nhận như thế: “Nói gì thì nói, việc chưa hạn chế được, chưa ngăn chặn được, để tham nhũng phát triển ngày càng tinh vi, ở đây cá nhân tôi muốn nhấn mạnh là theo chiều hướng ngày càng xấu, đã ảnh hưởng đến lòng tin của nhân dân với Đảng, là điều phải trăn trở suy nghĩ nhiều về đội ngũ cán bộ của chúng ta. Ngày càng có nhiều biểu hiện tham nhũng, tiêu cực. Cho nên chính vì điều này mà lòng tin của người dân cũng suy giảm lắm. Rõ ràng đây là một điều không hay với một đảng cầm quyền, đảng lãnh đạo và một chế độ theo định hướng XHCN. Như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nói, nó như một thách thức với Đảng, với chế độ.”
Và theo lời Duyệt thì: “Bây giờ phải xác định nhiệm vụ của cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo làm gì? Tổng Bí thư cần làm gì? Phải có một tầm bao quát, phát huy cao vai trò của nhân dân, của Mặt trận, của các tổ chức đoàn thể, của các cơ quan chuyên trách về công tác giám sát, như Ủy ban Kiểm tra của Đảng, vai trò giám sát của Quốc hội, của các cơ quan đoàn thể đại diện cho các tầng lớp của nhân dân.”
Nhưng thực tế Duyệt và Mặt trận Tổ quốc đã làm được gì với những kẻ tham nhũng, hay cũng chỉ biết khoanh tay ngồi nhìn chúng nhởn nhơ cười hắt vào mặt?
Hãy nghe Duyệt than: “Từng hoạt động nhiều năm ở Mặt trận, từng tham gia họp hành với Ban Chỉ đạo phòng chống tham nhũng, tôi cho rằng lúc này chỉ có dựa vào dân là sẽ làm được. Làm thế nào để cái "ghế” của Mặt trận, của các tổ chức nhân dân được phát huy, nếu không cẩn thận sẽ vẫn là hình thức, vì tham gia mà có hiệu quả gì đâu. Vấn đề đặt ra ở đây là làm thế nào để phát huy được vai trò giám sát của nhân dân, của Mặt trận, các tổ chức đoàn thể nhân dân thì Đảng mới có chỗ dựa. Chứ nếu Đảng chỉ dựa vào Ban Chỉ đạo phòng chống tham nhũng thì chưa đủ.”
Nhưng quyền giám sát của Mặt trận cũng đã được quy định trong Điều 12 trong Luật Mặt trận tổ quốc Việt Nam ban hành ngày 12 tháng 6 năm 1999, theo đó :
1- Hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là giám sát mang tính nhân dân, hỗ trợ cho công tác giám sát, kiểm tra, thanh tra của Nhà nước, nhằm góp phần xây dựng và bảo vệ Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong sạch, vững mạnh, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân.
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử, cán bộ, công chức theo quy định của pháp luật.
2- Hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được thực hiện bằng các hình thức sau đây:
a) Động viên nhân dân thực hiện quyền giám sát;
b) Tham gia hoạt động giám sát với cơ quan quyền lực nhà nước;
c) Thông qua hoạt động của mình, tổng hợp ý kiến của nhân dân và các thành viên của Mặt trận kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền biểu dương, khen thưởng người tốt, việc tốt, xem xét, giải quyết, xử lý những trường hợp vi phạm pháp luật.
Người đứng đầu cơ quan, tổ chức có trách nhiệm tạo điều kiện để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thực hiện nhiệm vụ giám sát. Khi nhận được kiến nghị của Mặt trận thì người đứng đầu cơ quan, tổ chức có trách nhiệm xem xét, trả lời trong thời hạn theo quy định của pháp luật.”
Ngoài ra, Nghị quyết Trung ương 3 (khoá đảng X) ngày 29 tháng 07 năm 2006 cũng xác quyết nguyên văn rằng: “Tổ chức đảng phải lãnh đạo các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội - nghề nghiệp làm tốt vai trò giám sát. Hàng năm, cán bộ chủ chốt cấp xã phải trực tiếp tự phê bình và phê bình tại hội nghị đại diện nhân dân do Mặt trận Tổ quốc tổ chức. Xây dựng và thực hiện cơ chế chất vấn trong sinh hoạt đảng.”
Tiếc rằng những việc này vẫn còn nguyên trên giấy, không có ma nào chịu làm theo, nhất là những cán bộ, đảng viên cấp lãnh đạo đứng đầu các tổ chức và cơ quan đảng.
Đã từng có nhiều đòan cán bộ thanh tra tham nhũng, khiếu kiện về địa phương không được ai tiếp phải khăn gói đi về mà không dám phản đối!
Quốc hội, cơ quan quyền lực cao nhất, hầu hết do người của đảng kiểm soát nên nếu đảng không “bật đèn xanh” thì không một đại biểu nào dám ho he. Vì vậy từ trước đến nay chưa thấy có vụ tham nhũng nào được quốc hội phanh phui ra.
Nhiều vụ tham nhũng tai tiếng khác cũng đã bị giấu nhẹm hoặc điều tra kéo dài đến “huề vốn”. Nhiều kẻ có trách nhiệm được nhà nước cho “hạ cánh an tòan”, hoặc thăng quan tiến chức trước con mắt mở toang và cái miệng há hốc kinh ngạc của người dân.
Vì vậy, Trọng mới kết luận trong diễn văn bế mạc Hội nghị Trung ương 5, ngày 15-05 (2012): “Một số cấp uỷ đảng, chính quyền và người đứng đầu chưa quyết tâm lãnh đạo và gương mẫu trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí; những bất cập về thể chế, nhất là trong việc ban hành, thực thi luật pháp, cơ chế, chính sách về quản lý kinh tế - xã hội; trên nhiều lĩnh vực vẫn còn sơ hở, bất cập, thiếu công khai, minh bạch và nhất quán; vẫn còn tình trạng "xin - cho". Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, thiếu tu dưỡng, rèn luyện, giảm sút ý chí chiến đấu, không làm tròn trách nhiệm, bổn phận trước Đảng, trước nhân dân; kỷ cương, kỷ luật không nghiêm.”
Như thế thì đã “hết thuốc chữa” chưa hay cần phải có thêm nhiều thuốc “diệt trừ sâu bọ” nữa để đảng tan luôn rồi lập ra một đảng mới và một nhà nước có dân chủ pháp trị thì may ra mới diệt được tham nhũng?
Nếu không thì chỉ có người dân phải chịu khổ thêm vì có ai biết đã có bao nhiêu cấp lãnh đạo đã kê khai tài sản theo Nghị định 37 ngày 09 tháng 03 năm 2007 về “minh bạch tài sản, thu nhập”, hay nghiêm chỉnh thi hành “19 Điều cấm đảng viên không được làm” do Tổng Bí thư đảng Nguyễn Phú Trọng ban hành ngày 01/11/2011, thay thế cho Quyết định 115 ngày 07/12/2007 của Bộ Chính trị?
Những chuyện “nhạy cảm” này mà đảng không minh bạch, không thành thật với dân theo tinh thần “nhà nước ta là nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân” thì làm sao dân tin đảng không còn cho họ “ăn bánh vẽ” nữa?
Phạm Trần
(05/012)danlambaovn
Tổ chức Ân Xá Quốc Tế vừa công bố bản báo cáo năm 2012 đánh giá tình tình các quốc gia vi phạm nhân quyền trên thế giới.
Một số diễn biến tích cực
Bản báo cáo năm 2012 dài 400 trang của Tổ Chức Ân Xá Quốc Tế nêu rõ tình hình nhân quyền của 155 quốc gia trên thế giới vừa được công bố vào ngày 23/05. Trong bản báo cáo này cho thấy tình trạng vi phạm nhân quyền của chính quyền Việt Nam tồi tệ hơn trong năm trước.
Một số diễn biến được cho là tích cực trong tình hình nhân quyền trong năm qua đó là quyết định của chính quyền dân sự Miến Điện trả tự do cho hơn 650 tù nhân chính trị và cho phép đảng đối lập của bà Aung San Suu Kyi ra ứng cử. Đây được đánh giá là một kết quả lạc quan trong quá trình đấu tranh dân chủ tại quốc gia này. Bên cạnh đó là những phong trào đấu tranh của người dân ở Trung Đông, Bắc Phi về tự do ngôn luận, đòi hỏi dân chủ có chuyển biến tích cực một cách mạnh mẽ.
Tuy nhiên, mảng tối trong bản báo năm 2012 của Tổ Chức Ân Xá Quốc Tế nêu ra những là các nhà lãnh đạo ở khu vực Châu Á-Thái Bình Dương chưa đáp ứng được những thách thức của xu thế dân chủ trên thế giới hiện nay. Liệt kê cụ thể trong bản báo cáo bao gồm xung đột ở Afghanistan và Thái Lan, phân biệt đối xử các dân tộc thiểu số ở Trung Quốc, Bangladesh, Indonesia và Pakistan. Công lý cho những người bị cầm tù trong thời Khmer Đỏ ở Campuchia vẫn chưa được làm sáng tỏ, điều tra về xung đột vũ trang trước đây ở Sri Lanka vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu….
Trung Quốc sử dụng toàn bộ lực lượng an ninh để đàn áp phản kháng. Bắc Triều Tiên không có dấu hiệu cải thiện tình trạng vi phạm nhân quyền trầm trọng.
Một số diễn biến tích cực
Bản báo cáo năm 2012 dài 400 trang của Tổ Chức Ân Xá Quốc Tế nêu rõ tình hình nhân quyền của 155 quốc gia trên thế giới vừa được công bố vào ngày 23/05. Trong bản báo cáo này cho thấy tình trạng vi phạm nhân quyền của chính quyền Việt Nam tồi tệ hơn trong năm trước.
Một số diễn biến được cho là tích cực trong tình hình nhân quyền trong năm qua đó là quyết định của chính quyền dân sự Miến Điện trả tự do cho hơn 650 tù nhân chính trị và cho phép đảng đối lập của bà Aung San Suu Kyi ra ứng cử. Đây được đánh giá là một kết quả lạc quan trong quá trình đấu tranh dân chủ tại quốc gia này. Bên cạnh đó là những phong trào đấu tranh của người dân ở Trung Đông, Bắc Phi về tự do ngôn luận, đòi hỏi dân chủ có chuyển biến tích cực một cách mạnh mẽ.
Tuy nhiên, mảng tối trong bản báo năm 2012 của Tổ Chức Ân Xá Quốc Tế nêu ra những là các nhà lãnh đạo ở khu vực Châu Á-Thái Bình Dương chưa đáp ứng được những thách thức của xu thế dân chủ trên thế giới hiện nay. Liệt kê cụ thể trong bản báo cáo bao gồm xung đột ở Afghanistan và Thái Lan, phân biệt đối xử các dân tộc thiểu số ở Trung Quốc, Bangladesh, Indonesia và Pakistan. Công lý cho những người bị cầm tù trong thời Khmer Đỏ ở Campuchia vẫn chưa được làm sáng tỏ, điều tra về xung đột vũ trang trước đây ở Sri Lanka vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu….
Trung Quốc sử dụng toàn bộ lực lượng an ninh để đàn áp phản kháng. Bắc Triều Tiên không có dấu hiệu cải thiện tình trạng vi phạm nhân quyền trầm trọng.
Nhân quyền VN ngày càng tồi tệTrong khu vực Đông Nam Á, Việt nam bị cho là quốc gia có tình trạng nhân quyền bị vi phạm tồi tệ nhất.
Ông Rupert Abbott, chuyên viên đặc trách Campuchia-Lào và Việt Nam của Tổ Chức Ân Xá Quốc Tế nêu lên nhận định của mình sau khi bản báo cáo vừa công bố:
“Việt Nam là quốc gia vi phạm nhân quyền tồi tệ nhất ở khu vực Đông Nam Á hiện nay. Tổ Chức Ân Xá Quốc tế không dùng phương cách so sánh nhưng chính quyền Việt Nam nên cảnh giác với nhận xét này trên trường quốc tế. Tôi hy vọng rằng người dân sẽ làm nên những thay đổi đồng thời các nhà lãnh đạo Việt Nam cũng sẽ phải tôn trọng nhân quyền ở đất nước họ.”
Ông Rupert Abbott cho biết Việt Nam có rất nhiều tù nhân chính trị hay còn gọi là tù nhân lương tâm. Vì thế, Tổ Chức Ân Xá Quốc Tế cần khẳng định không thể bỏ qua vấn đề nhân quyền ở Việt Nam, mà trái lại phải kêu gọi để thế giới chú ý và tạo áp lực cho tới khi nào Việt Nam tôn trọng nhân quyền, phóng thích mọi tù nhân lương tâm, đối xử tử tế với người dân. Cơ bản những điều này phục vụ cho lợi ích của người dân mà chính phủ Việt Nam cần thực hiện.
Trong phần báo cáo về tình hình nhân quyền ở Việt Nam năm 2012, Ân Xá Quốc tế nêu rõ tình trạng tiếp tục đàn áp khắc nghiệt những người bất đồng chính kiến, những người đấu tranh trong ôn hòa, hạn chế nghiêm trọng về tự do ngôn luận, tự do tôn giáo. Các trường hợp điển hình được nêu lên như luật sư Cù Huy Hà Vũ, nhà văn Trần khải Thanh Thủy, Linh mục Nguyễn văn Lý, luật sư Nguyễn văn Đài, nhà báo Nguyễn Hoàng Hải tức blogger “Điếu cày”, những nạn nhân người Thượng, những thành viên của Giáo Hội Phật Giáo Hòa Hảo là Nguyễn Văn Lía và Trần Hòai Ân, các học viên Pháp Luân Công, nhiều dân oan trong các tranh chấp và cưỡng chế đất đai và những người lên tiếng kêu gọi cải cách hoặc phản đối về môi trường đất đai và các quyền lao động…đều bị bắt bớ và giam cầm.
Theo báo cáo của các phương tiện truyền thông có 23 người bị kết án tử hình nhưng con số thật sự được cho là có thể cao hơn. Tổ Chức Ân Xá Quốc tế chỉ trích chính quyền Việt Nam sử dụng qui định mơ hồ của Bộ luật Hình sự năm 1999, đặc biệt là điều 79 là “có âm mưu lật đổ chính quyền” và điều 88 “tuyên truyền chống phá nhà nước” để bắt bớ giam cầm người dân một khi họ cất lên tiếng nói đòi hỏi quyền tự do căn bản như tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do lập hội, tự do bày tỏ ý kiến.

Bản báo cáo cũng nêu lên chính quyền Hà Nội ra sức ngăn chặn người dân sử dụng internet, tự do thông tin bằng nhiều hình thức khác nhau. Các mạng xã hội như Facebook, Twitter bị đóng cửa và chính quyền yêu cầu các café internet cung cấp cho công an thông tin những người truy cập vào các trang mạng cấm.
Chuyên viên đặc trách Rupert Abbott cho rằng bản báo cáo năm 2012 cho thấy trong năm qua ở tại Trung Đông, Bắc Phi có sự thay đổi rất lớn. Những người dân ở đó đấu tranh bằng cách cất lên tiếng nói cũng như có hành động để đòi hỏi những quyền hạn cơ bản của mình và họ đã rất thành công. Ông Rupert cho là chính quyền Việt Nam nên cần có cân nhắc một cách thông minh khi nhìn thấy những diễn biến này trên thế giới. Ông nói:
“Tại Ủy Ban Nhân Quyền Hạ Viện Tom Lantos, trong buổi điều trần về tình hình nhân quyền Việt Nam ở DC, tình hình ngày càng tồi tệ hơn. Đây là một vấn đề rất nghiêm trọng ảnh hưởng đến uy tín của Việt Nam trên thế giới. Việt Nam muốn có mối quan hệ tốt hơn với Hoa Kỳ và Châu Âu trong ban giao thương mại cũng như nhờ vào các mối quan hệ này để cân bằng hơn trước mối nguy hiểm do Trung Quốc lấn chiếm lãnh thổ của Việt Nam, do đó, để tăng cường mối quan hệ với Hoa Kỳ và Châu Âu, Việt Nam cần phải thông minh hơn để ngừng lại, và phải cải thiện tôn trọng nhân quyền. Vì thế, chúng tôi yêu cầu Việt Nam phải đáp ứng đòi hỏi này.”
Tổ Chức Ân Xá Quốc Tế kêu gọi các quốc gia trên thế giới mỗi khi thương thảo về mậu dịch với Việt Nam nên đưa vấn đề vi phạm nhân quyền vào chương trình nghị sự. Nếu chính phủ Việt Nam muốn có nhiều quyền lợi hơn khi là thành viên của cộng đồng quốc tế thì chính những nhà lãnh đạo quốc gia phải tôn trọng nhân quyền, tôn trọng tự do tôn giáo và tự do ngôn luận.
RFA





.jpg)


