Trước những oan khuất của các thanh niên Công giáo bị đối xử bạo ngược, bắt giữ trái pháp luật nhằm tiêu diệt lòng yêu nước thương dân của họ, sáng nay 27/8/2012, hàng chục thân nhân của 17 thanh niên Công giáo đã xuống đường diễu hành đòi trả tự do cho con em họ là những người vô tội, là những người yêu nước
Đoàn có khoảng 30 người, tất cả mặc áo trắng sọc xanh, phía trước là biểu ngữ: Con tôi vô tội, anh tôi vô tội hoặc cháu tôi vô tội, bố tôi vô tội… Sau lưng là hình ảnh 17 thanh niên công giáo bị bắt bớ, giam cầm, khủng bố trái pháp luật với hàng chữ: Hãy trả tự do cho những người yêu nước.
Đoàn đã xếp hàng trật tự đi qua Phủ chủ tịch, Văn phòng Trung ương Đảng CSVN, đi đến văn phòng Trung Ương Đảng đưa đơn.
Thế nhưng, thay vì tiếp các ông chủ nhân dân, các đầy tớ đã xua một đoàn đầu trâu mặt ngựa kết hợp với công an ra bắt bớ, đàn áp bà con lên xe và chở đi.
Một số hình ảnh buổi tuần hành sáng nay 27/8/2012:
Thân nhân của những người yêu nước bị lùa lên chiếc xe biển xanh 31A - 8432 đã chở họ đi đâu chưa rõ.
27/8/2012
Nữ Vương Công Lý
Tổ tiên người Việt có câu ”cháy nhà ra mặt chuột” cho nên khi chuyện nhà, việc nước gặp chuyện không hay ta mới biết ai là kẻ trung, người hiếu hoặc người nào dễ dàng chấp nhận số phận để được an thân, dù trong tay kẻ thù hay những kẻ phản bội. Bằng chứng này đã phản ảnh rất rõ trong cách ứng xử của đảng và nhà nước Cộng sản Việt Nam (CSVN) trước các hành động xâm phạm trắng trợn chủ quyền biển đảo Việt Nam của Trung Cộng từ sau khi Luật Biển ra đời ngày 21 tháng 06 năm 2012.
BẰNG CHỨNG BUÔNG XUÔI
Sau đây là những việc làm đã khiến nhân dân nghi ngờ về quyết tâm chống Trung Cộng để bảo vệ Tổ quốc của những người có trọng trách trong giới cầm quyền ở Việt Nam:
- Quân đội và Lực lượng Biên phòng Việt Nam không có bất cứ động thái bảo vệ chủ quyền nào, kể cả trong trường hợp ngư dân Việt Nam bị Trung Cộng tấn công, cướp của, đánh đập dã man hoặc dùng võ lực ngăn chận không cho đánh cá trong vùng biển Việt Nam.
- Để mặc cho các tầu đành cá Trung Cộng, nay đã lên tới 23,000 chiếc tự do xâm nhập và đánh bắt tự do trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, đặc biệt quanh vùng Hòang Sa, Vịnh Bắc bộ và Trường Sa.
- Không dám thi hành Pháp lệnh lực lượng cảnh sát biển Việt Nam ban hành ngày 26/01/2008 quy định quyền bảo vệ lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và nghiêm trị những vi phạm chủ quyền của Việt Nam theo pháp luật của Việt Nam và các điều ước quốc tế.
- Ngăn cấm không cho dân biểu tình chống Trung Cộng xâm lược.
- Khủng bố, đe dọa, hạch hỏi, điều tra, theo dõi ngày đêm những ai “có dự tính” xuống đường biểu lộ tinh thần yêu nước.
- Kể từ năm 2007, tăng cường theo dõi, ruồng bắt những người “đi biểu tình” chống chính sách bá quyền, bành trướng lãnh thổ của Bắc Kinh.
- Chỉ thị cho Báo-Đài của nhà nước chụp mũ người yêu nước phá rối trật tự, an ninh, mắc mưu các “thế lực thù địch” và “gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân, kích động hằn thù dân tộc chia rẽ quan hệ Việt – Trung.” Thậm chí còn bịa đặt cả chuyện có kẻ “phát tiền cho người tham dự biểu tình”, dù không chứng minh được.
- Tuyên truyền ru ngủ người dân bằng luận điệu đầu hàng, buông trôi trách nhiệm với lời khuyên: “đã có đảng và nhà nước lo”.
- Bất lực trước các âm mưu phá họai kinh tế, đầu cơ, hàng lậu, xâm hại môi trường, khai thác Bauxite, quặng mỏ, qúy kim, súc vật, nông phẩm, hải sản,gỗ qúy trên khắp lãnh thổ.
- Cho Tầu thuê đất chiến lược dài hạn 50 năm trên vùng cao, ven biển, mở khu phố Tầu, xây thị tứ, gia cư.
- Để cho các khu “kinh tế Tầu” làm chủ trên lãnh thổ Việt Nam được tự do “phong tỏa” sự dòm ngó của người Việt và chính quyền Việt.
- Các cơ quan Lao động, Công đòan, Công an của Nhà nước từ trung ương về địa phương hòan toàn bất lực, hoặc để cho bị mua chuộc trong các vụ kiểm soát vi phạm lao động và bảo vệ quyền lợi của công nhân người Việt làm cho các công ty Tầu.
- Không kiểm soát nổi nạn người Tầu nhập cư bất hợp pháp; không nắm vững được số công nhân Tầu đội lốt chuyên viên đang có mặt ở Việt Nam. Nhà nước chỉ biết có từ 35 đến 40 ngàn “công nhân người nước ngòai” đang làm việc ở Việt Nam, nhưng báo chí Việt Nam, từ 2 năm trước, đã nêu ra con số 75 ngàn công nhân người Hoa làm việc cho các Công ty Tầu trên lãnh thổ Việt Nam.
- Không dám tố cáo các hành động xâm lược của Trung Cộng trước Liên Hiệp Quốc và các Tổ chức Quốc tế.
- Không tập trung các tài liệu và dữ kiện lịch sử về chủ quyền lãnh thổ và biển đảo để phổ biến trong nhân dân, đưa vào hệ thống giáo dục tòan quốc.
- Không có kế họach dịch ra tiếng nước ngòai các văn kiện lịch sử về chủ quyền lãnh thổ, đặc biệt về chủ quyền 2 quầbn đảo Hòang Sa và Trường sa, để phổ biến tới các nước có quan hệ ngọai giao với Việt Nam, các Tổ chức Quốc tế và Liên Hiệp Quốc để chống lại hệ thống tài liệu, bản đồ và sách báo tuyên truyền xuyên tạc của Trung Cộng.
- Tại sao, Tiến sỹ Sử học Nguyễn Nhã, người đã có công sưu tầm các dữ liệu lịch sử để bảo vệ vững chắc chủ quyền của Việt Nam trên 2 Quần đào Hoàngh Sa và Trường Sa phải lặn lội từ Việt Nam sang Mỹ để mưu tìm sự giúp đỡ dịch qua tiếng Anh (chưa chắc đã được) công trình nghiên cứu của ông để phổ biến cho cả Thế giới biết vể chủ quyền lãnh thổ, trong khi nhà nước lại để mất hàng ngàn tỷ bạc vào các dự án kinh tế không đem lại phúc lợi cho dân như trường hợp của Vinalines và Vinashin ?
Hãy nghe lời thở than của Tiến sỹ Nhã trong thư ông gửi từ Hoa Kỳ cho các bạn trẻ: “ Tháng 8 năm 2011, tôi cùng nhà cựu ngoại giao Dương Danh Dy nói chuỵên về Hoàng Sa & Trường Sa tại Trường Đại học Ngọai thương ở Hà Nội. Một nữ sinh viên đã phát biểu một câu: “Bất cứ ai vô cảm với Hoàng Sa & Truờng Sa đều có tội với tổ tông và dân tộc”, sau khi nghe tôi nói: “Bất cứ ai làm cho đất nước suy hèn đều có tội với tổ tông và dân tộc”. Tôi cũng đã từng nói: “Sự thật lịch sử chỉ có một. Lịch sử rất công bằng và nghiêm khắc với bất cứ ai kể cả nhà sử học”.
Ngày 16 tháng 6 năm 2012 tới, từ Việt Nam, mặc dù tuổi đã cao, tôi vẫn cố lặn lội đến Boston, chỉ cốt nói với các du học sinh tại Trường Đại học Harvard về sự thật lịch sử chủ quyền tại Hoàng Sa & Trường Sa, với ước mong các bạn du học sinh ở Trường Harvard giúp tôi hoàn chỉnh bản tiếng Anh hơn 500 trang hồ sơ tư liệu về chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa & Trường Sa, cùng giúp tôi đưa đến các thư viện có trong danh sách mà năm 1960, Headquarters, U.S. Pacific Broadcasting and Visual Activity AP0331 đã gửi tài liệu “Analysis on The Spratley – Paracel Islands Dispute”, no 010660.
Cuối thư, tiến sĩ Nguyễn Nhã viết:
“Không có cách nào khác, trước những nguy cơ chưa từng có tại biển Đông, các bạn trẻ Việt Nam không phân biệt chính kiến, hãy cùng nhau dẹp bỏ những gì “xấu xí” của người Việt Nam như quá ham những tư lợi, thiếu đoàn kết… mà phải có lòng yêu nước chân chính, có tâm, có tầm như người Nhật Bản để cùng nhau xây dựng nội lực đất nước hùng cường.
Mong vậy thay!” (Báo Dân trí, ngày15-06-2012).
Sự lạnh nhạt của giới cầm quyền Việt Nam trước công lao của Tiến sỹ Nhã có nên đặt ra một nghi vấn về lòng ái quốc và quyết tâm bảo vệ lãnh thổ của họ trước vong linh của Tổ tiên chăng ?
NỐI GIÁO CHO GIẶC?
Song song với thái độ đáng lên án này, nhà cầm quyền đã :
-Ngăn cấm không cho Câu Lạc Bộ Nguyễn Văn Bình ở Sài Gòn, thành lập năm 2006 bởi Đức cha Nguyễn Thái Hợp, Giám mục Địa phận Vinh, Chủ tịch Ủy ban Công lý và Hòa Bình của Hội đồng Giám mục Việt Nam, tổ chức hội thảo về tình hình đất nước, đặc biệt về tình hình “dầu sôi lửa bỏng” ở Biển Đông.
Câu Lạc Bộ này chỉ tổ chức chung được một lần với Nhà xuất bản Tri Thức về đề tài “Biển Đông và hải đảo Việt Nam” ngày 24,25-07-2009. Sau đó chính quyền Cộng sản ở Thành phố Hồ Chí Minh đã cấm không cho tổ chức cuộc thảo luận lần 2 về đề tài “Công lý và Hòa bình trên Biển Đông” dự trù tổ chức vào ngày 17 tháng 09 năm 2011.
Bản Thông báo hủy bỏ của CLB đưa ra chiều ngày 16/09/2011 cho biết họ lấy làm tiếc rằng “Một cơ hội góp phần khẳng định chủ quyền Việt Nam trên Biển Đông “ !
Tại sao đảng CSVN lại sợ hãi Trung Cộng đến thế ?
Họ cũng :
-Gạt bỏ ngòai tai những đề nghị và lời khuyên chí tình của nhiều Trí thức, Cựu Lão thành Cách mạng về các giải pháp đòan kết dân tộc trong – ngòai Việt Nam để chống ngọai xâm; đổi mới chính trị; thi hành nghiêm chỉnh các quyền tự do của dân ghi trong Hiến pháp; áp dụng triệt để luật lệ quốc gia đồi với sự thao túng, công khai phạm luật của người Hoa trên lãnh thổ Việt Nam để bảo vệ quyền làm chủ đất nước của người dân.
-Tiếp tục giấu kín những cam kết chính trị, lãnh thổ và kinh tế với Trung Cộng mà thực tế đã chứng minh bất lợi cho công cuộc đấu tranh bảo vệ sự vẹn tòan lãnh thổ cùa quốc gia, tiêu biểu nhất là Công hàm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng ngày 14/09/1958 nhìn nhận chủ quyền của Trung Cộng trên hai quần đảo Hòang Sa và Trường Sa.
-Tiếp tục khờ khạo, hay bị áp lực từ Bắc Kinh để tin vào lời lẽ đường mật 16 chữ “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” và tinh thần 4 tốt “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt” trong khi Trung Cộng tăng cường các hoạt động chiếm đóng các vị trí chiến lược ở biên giới và các vùng biển đảo của Việt Nam ở Biển Đông.
-Bác bỏ yêu cầu đình chỉ dự án khai thác Bauxite trên Tây Nguyên của trên 3,000 Trí thức, trong đó có cả Bà Nguyễn Thị Bình, Nguyên Phó Chủ tịch Nước vì ai cũng thấy chỉ có Tầu hưởng lợi trong việc khai thác vì chính Tầu đã thúc bách Lãnh đạo Việt Nam để được đặt chân vào vùng đất chiến lược Tây Nguyên mà ngay cả Đại Tướng Võ Nguyên Giáp cũng phản đối.
-Trong khi đó lại cố tình dung túng những hành động “phù Tầu”, “xuyên tạc lịch sử anh hùng Việt Nam” để bôi nhọ lịch sử đấu tranh của dân tộc; ngoảnh mặt làm ngơ những thiệt hại về người và của do quân Tầu gây ra cho nhân dân 6 Tỉnh biên giới cực bắc (Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Hà Giang, Lào Cai và Lai Châu) trong cuộc chiến tranh biên giới năm 1979.
- Không nhớ là Quân Tầu đã chiếm cao điểm chiến lược quan trọng 1.502 (Tầu gọi là núi Lão Sơn) ở xã Thanh Thủy,huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang (tên cũ là Hà Tuyên), sau cuộc chiến biên giới lần 2 giữa hai nước năm 1984. Từ vị trí này, quân Tầu nhìn thấy hết các hoạt động bên dưới của Việt Nam.
Trong số những lãnh đạo đã nói những lời làm nhân dân bầm gan, tím ruột có cả Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân đưa ra ngày 10/07/2012 tại Hà Nội về việc tăng cường “công tác tuyên truyền về tình hữu nghị truyền thống Việt-Trung bằng các hình thức đa dạng, phong phú, tổ chức các hoạt động tri ân các cá nhân, tổ chức, địa phương Trung Quốc từng giúp đỡ Việt Nam.”
Hay như trường hợp của hai Lãnh đạo Bộ Quốc phòng là Trung tướng Mai Quang Phấn, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị QĐND và Phùng Quang Thanh, Đại tướng, Bộ trưởng Quốc phòng tại Hà Nội hôm 28/07/2012.Hai người này cũng đã nói những câu nghe chói tai, làm đau lòng những thân nhân của trên 40,000 quân và dân đã bỏ mình trong cuộc chiến bảo vệ lãnh thổ chống Tầu năm 1979 và 64 binh sỹ đã hy sinh trong trận chiến chống quân Tầu xâm lăng Trường Sa năm 1988 khi Việt Nam linh đình tổ chức lễ “kỷ niệm 85 năm Ngày thành lập Quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc (1-8-1927/1-8-2012)”.
Mai Quang Phấn nói trước mặt Khương Tái Đông, Đại biện lâm thời Đại sứ quán nước CHND Trung Hoa tại Việt Nam rằng : “Đây là dịp để chúng ta ôn lại những kỷ niệm sâu sắc, ghi nhớ những tình cảm quý báu, cao đẹp, sự giúp đỡ to lớn, chí nghĩa, chí tình có hiệu quả, mà Đảng, Nhà nước, nhân dân và Quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc đã dành cho Đảng, Nhà nước, nhân dân và QĐND Việt Nam trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc trước đây cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN ngày nay.”
Còn Phùng Quang Thanh lại tha thiết hơn: “Chúng tôi luôn trân trọng, ghi nhớ và mãi biết ơn sự giúp đỡ chí tình, chí nghĩa, to lớn có hiệu quả mà Đảng, Chính phủ, nhân dân và Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc đã dành cho Việt Nam”
BÁO-ĐÀI XUYÊN TẠC
Bên cạnh những hành động đầu hàng, đàn áp những người yêu nước nêu trên, đảng và nhà nước CSVN còn khuyến khích và dung dưỡng một số cơ quan báo-đài viết bài ru ngủ, xuyên tạc và bóp méo các nỗ lực bảo vệ chính nghĩa của nhân dân chống lại kế họach xâm lược của Trung Cộng đang ngày một lên cao ở Biển Đông và trên đất liền.
Bằng chứng như lời lẽ phun nọc độc của Báo Hà Nội Mới ngày 05/08/2012 đã xuyên tạc : “Những cuộc tụ tập, biểu tình, tuần hành tự phát đã gây ảnh hưởng xấu đến TTATXH (trật tự an ninh xã hội), đến hình ảnh Thủ đô Hà Nội – Thành phố vì hòa bình; tiềm ẩn các yếu tố gây mất ổn định chính trị; tác động tiêu cực tới việc thực hiện đường lối, quan hệ đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta.
Một bộ phận quần chúng do thiếu thông tin, ngộ nhận tham gia biểu tình tự phát là thể hiện tinh thần yêu nước, trong khi đó số đối tượng chống đối trong và ngoài nước đang ráo riết lợi dụng vấn đề trên để tiến hành các hoạt động chống Đảng, Nhà nước. Âm mưu, ý đồ của họ là chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân, kích động hằn thù dân tộc chia rẽ quan hệ Việt – Trung, kích động, tập hợp lực lượng gây mất an ninh trật tự và ổn định chính trị đất nước.”
Tại sao những cuộc biểu tình có mang theo biểu ngữ xác nhận chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hòang Sa và Trường Sa, cũng như những lời hô “đả đảo Trung Quốc xâm lược” lại có “tiềm ẩn các yếu tố gây mất ổn định chính trị; tác động tiêu cực tới việc thực hiện đường lối, quan hệ đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta” ?
Nếu biết có “tiểm ẩn” thì hãy thẳng thắn nói ra cho mọi người biết xem cái “yếu tố” gây “mất ổn định chính trị” là cái gì, ở đâu và do ai chủ mưu để “chống đảng, nhà nước” ?
Ngọai trừ chỉ biết “ăn ốc nói mò” hay “vu vạ cáo oan” cho người lương thiện thôi chứ những biểu ngữ như thế này thì chỉ có những kẻ “nội gián, ăn cơm của Tầu” mới nói là “chia rẽ quan hệ Việt-Trung:“China, hands off” (Trung Quốc, hãy buông tay tham vọng), “Yêu cầu ông Hào, Phó Chủ tịch Tỉnh Hưng Yên Trực Tiếp Chỉ Huy Cưỡng chế Trung Quốc” (thách đố ông Nguyễn Khắc Hào, người có trách nhiệm trong vụ đàn áp cưỡng chế đất dân ở Văn Giang, Hưng Yên, ngày 24/04/2012); hay “Tổ quốc gọi chúng con có mặt vì bình yên xã tắc, sơn hà”, “Đả đảo Trung Quốc xâm lược”, “Xin đừng Vô Cảm”, hoặc “Hoàng Sa-Trường Sa của Việt Nam. NO-U ” (ám chỉ đường Lưỡi Bò mà Tầu tự vẽ, tự nhận là của mình ở Biển Đông).
Những người đi biểu tình, trong số có nhiều Trí thức như Bác sỹ Phạm Hồng Sơn, Cụ Bà Lê Hiền Đức, Nhà báo Nguyễn Thượng Long, Nhà văn Nguyễn Tường Thụy, hay trước đây như các Giáo sư Nguyễn Huệ Chi, Nhà văn Nguyên Ngọc, Tiến sỹ Nguyễn Quang A, v.v… thì ai xúi giục được họ làm những điều trái đạo lý, chưa vội nói đến những hành vi “gây chia rẽ khối đại đòan kết tòan dân” như cái lưởi rắn Hổ Mang của báo Hà Nội Mới.
Cũng trong vụ này, những người làm báo đảng hãy đọc Đoan Trang, Phóng viên thường trú tại Hà Nội của Báo Pháp Luật Thành phố Hồ Chí Minh, người đã tham gia biểu tình chống Trung Cộng ngày 5-08-2012.
Cô viết : “Tôi viết bản tường trình này liên quan đến việc tôi đi biểu tình sáng 5-8 tại khu vực Bờ Hồ và bị bắt đưa về trại lưu trú Lộc Hà. Việc tôi đi biểu tình là hoàn toàn tự nguyện, không có bất kỳ ai rủ rê, lôi kéo, xúi giục, thúc ép….
“…Như tôi đã nói với cơ quan điều tra cũng như tại blog cá nhân của mình, việc người dân biểu tình ôn hòa chống những hành vi gây hấn, có tính chất bá quyền và ngày càng leo thang của Trung Quốc trên Biển Đông, là việc làm tốt, thể hiện lòng yêu nước, chính kiến của người dân, hình thành một mặt trận ngoại giao nhân dân, cùng với Nhà nước bảo vệ chủ quyền quốc gia.
Một trong các lý lẽ mà cơ quan công an đưa ra để trấn áp hoạt động biểu tình là “sợ người dân bị các phần tử cơ hội chính trị, chống đối Nhà nước, lợi dụng kích động, xúi giục gây rối trật tự công cộng hoặc chống phá chính quyền”. Thiết nghĩ, nếu thực trong hàng ngũ người biểu tình có những thành phần cơ hội chính trị như thế, thì cơ quan an ninh, công an có thể xử lý họ, nếu xác định được họ có hành vi vi phạm pháp luật. Chứ không thể gộp tất cả những người biểu tình vào một “rọ” để trấn áp tuốt, theo cái lối tư duy “không quản được thì cấm”, chỉ vì một khía cạnh nào đó rất nhỏ mà chụp mũ, bôi nhọ một mục đích tốt đẹp của hoạt động biểu tình.”
VỤNG VỀ ẤU TRĨ
Hành động “chụp mũ” và “xuyên tạc sự thật” của báo đảng viết theo lệnh của cơ quan chủ qủan tờ báo hay đài theo lệnh từ Ban Tuyên giáo của đảng là điều không mới.
Nhưng cách thông tin, tuyên truyền từ cuộc biểu tình ngày 05/08/2012 lại lộ ra một cách vụng về và ấu trĩ của đài Truyền hình Hà Nội.
Trong bản tin buổi trưa ngày 05/08 đài này nói như rồng gặp nước rằng: “Đáng chú ý là trong cuộc tụ tập sáng nay, quần chúng nhân dân và lực lượng an ninh đã phát hiện và bắt quả tang một số đối tượng đang phát trả tiền công cho những người biểu tình”.
Đài này còn tố cáo “Bộ mặt thật cái gọi là biểu tình yêu nước đã bị lộ tẩy”, và hứa sẽ có thêm chi tiết và bằng chứng trong bản tin buổi chiếu lúc 18:30 (6 giờ 30 chiều) cùng ngày.
Tuy nhiên, trong bản tin sau đó lúc 18:30 lại không hề cung cấp thêm bằng chứng về việc này. Đài này cũng “tự ý cho quên luôn” những điều mình nói trước đó.
Sự việc không có mà tự ý vu oan cáo vạ cho người đi biểu tình là hành động phỉ báng và bội nhọ nhân dân
Ngòai ra, việc nhà cầm quyến ở Hà Nội đã huy động cả ngàn công an, dân phòng đi bắt người dân yêu nước biểu tình ngày 05/08/2012 rồi đưa họ về Trung tâm lưu trú Lộc Hà (tên gọi cũ là Trại phục hồi nhân phẩm Lộc Hà) để điều tra ai đã tổ chức xuống đường và với mục đích gì là hành động chỉ làm cho người dân kiên quyết hơn.
Hơn nữa việc chọn một trại “phục hồi nhân phẩm” để điều tra hành động của những người yêu nước là nhà nước đã tự mình hạ thấp nhân phẩm của mình.
Trường hợp này cũng giống như luận điệu của Báo Cựu Chiến Binh khi từ bỏ nhiệm vụ hàng đầu của tổ chức của những người cựu Bộ đội là nuôi dưỡng tinh thần “vì nước quên mình” cho Quân đội Nhân dân, nơi đang có con, cháu họ phục vụ để bảo vệ Tổ quốc.
Thái độ này đã phản ảnh trong Bài bình luận ngày 19/07/2012 của tờ báo khi họ cũng “tát nước theo mưa” cùng với báo chính thống chống người dân đi biểu tình chống Trung Cộng.
Bài báo viết: “Nhìn bề ngoài thì dường như những hoạt động đó thể hiện lòng yêu nước nhưng thực chất bên trong là mưu đồ chính trị không thể xem thường. Ban đầu, những hoạt động tụ tập, tuần hành của một số người dân mang tính tự phát nhưng sau đó đã xuất hiện sự kích động, lợi dụng hưởng ứng tuần hành, biểu tình thành các hoạt động có tổ chức, gây rối trật tự công cộng, có biểu hiện chống chế độ với những hành vi phản đối chính quyền của một số người bất mãn lâu nay vẫn tìm cách chống chính quyền, chống đối chế độ.”
Bài bình luận vu vạ rằng: “Bản chất của cuộc tụ tập, tuần hành đã thay đổi hẳn, trở thành chống đối chế độ, chống đối Đảng, Nhà nước. Bên cạnh đó, một số trang mạng xã hội trong nước cũng như ngoài nước liên tục kêu gọi tham gia tuần hành, biểu tình, làm mất trật tự an ninh xã hội mà ẩn chứa đằng sau nó là sự tập dượt tập hợp lực lượng gây mất ổn định về đời sống chính trị nước ta. Thực chất, đây là những ngón đòn không mới của chiến lược “diễn biến hòa bình”, là những “kinh nghiệm” của các cuộc cách mạng màu sắc ở nhiều quốc gia trên thế giới trong thời gian qua mà các thế lực thù địch đang mưu toan áp dụng ở Việt Nam.
Cuối củng bài viết kêu gọi: “Sự tỉnh táo của mỗi người, nhất là của các Cựu Chiến Binh chúng ta trong bối cảnh hiện nay là rất cần thiết. Mỗi người dân cần nắm chắc các nguyên tắc pháp lý của Việt Nam cũng như quốc tế về lãnh thổ, lãnh hải; hiểu rõ lịch sử đất nước qua các thời kỳ và nắm chắc các diễn biến tình hình thời sự liên quan đến lãnh thổ, lãnh hải đất nước để có các hành động chuẩn mực, thể hiện lòng yêu nước trong mỗi công việc của mình, theo đúng các quy định pháp luật, theo sự chỉ đạo, lãnh đạo của Đảng và Nhà nước.
Thể hiện lòng yêu nước không phải là hành động làm rối trật tự xã hội, đừng biến một hành động mang ý nghĩa cao cả thành một hành động phản cách mạng do các thế lực thù địch giật dây.”
Lập luận của báo Cựu Chiến Binh và các báo của đảng đã bị người dân trong nước thẳng thắn phê bình nói suông, và họ yêu cầu nhà nước phải có hành động cụ thể để bảo vệ chủ quyền.
DÂN LÊN TIẾNG
Trước thái độ “bình chân như vại” của chính quyền và của báo đảng, nhiều người dân trong nước đã khuyến cáo đã đến lúc phải có biện pháp mạnh với các tầu đánh cá Trung Cộng xâm phạm hải phận Việt Nam.
Ý kiến của người dân đã được Báo Thanh Niên phản ảnh trong số ra ngày 07/08/2012 như sau:
Độc giả Nguyễn Văn Trực nói: “Tôi cho rằng cùng với việc dứt khóat trong việc bắt giữ tàu Trung Quốc xâm lược chủ quyền biển, đảo của ta, ta phải lên tiếng mạnh mẽ và công khai trên các diễn đàn Quốc Tế nhất là tại Đại Hội Đồng LHQ và Hội Đồng Bảo An. Chúng ta cần lên án mạnh mẽ hành động xâm lược của Trung Quốc tại các diễn đàn Quốc Tế như thế này. Có như thế thế giới mới thấy bộ mặt thật của TQ. Chứ cứ ngồi nhà mà “chửi thầm” thì chả có ý nghĩa gì. Nhà ta đang cháy thì phải hô to lên cho cả làng nghe thấy họ mới tới chữa được.”
Đỗ xuân Vinh phát biểu từ Hà Nội : “Đúng là không chỉ phản đối mà chúng ta phải có hành động quyết liệt để thực hiện quyền chủ quyền, quyền tài phán trên vùng lãnh hải VN dựa trên cơ sở luật pháp quốc tế và luật biển của VN, cảnh sát biển hãy thực thi nhiệm vụ bất kỳ ai vi phạm chủ quyền vùng biển thì phải bắt giữ để xử lý theo pháp luật VN.”
Từ Hải Phòng, độc guiả Thế Phong góp ý: “Người dân Việt Nam chúng ta luôn yêu hoà bình nhưng không co nghĩa là chúng ta có thể để cho các thế lực bên ngoài chà đạp lên như vậy. Nếu không ngay bây giờ ta không hành động cứng rắn hơn mà chỉ với các khẩu hiệu yêu cầu, đề nghị… thì một ngày nào đó Việt Nam chúng ta sẽ chẳng còn chủ quyền. Gậy tre mà ông cha ta còn thắng bom đạn hiện đại thì chẳng có lý do gì mà lúc này ta phải e sợ: “Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”.
Trong khi đo, độc giả tên Sơn ở Qủang Trị nói: “Tôi thấy Ngư dân chúng ta thì bị chúng bắt, nộp phạt lên đến tiền tỉ. Vậy mà khi chúng ngang nhiên làm bậy trên lãnh địa của chúng ta thì chúng ta chẵng có động thái gì ngoài mấy tờ báo rêu rao phản đối. Chúng ta cần phải có các động thái mạnh để đẩy lùi âm mưu xâm lược của chúng.”
Bạch Ngọc Miện cũng lên tiếng từ Thị xã Phú Thọ : “Không phải bàn bạc gì nữa. Phải bắt giữ ngay kẻ nào xâm phạm chủ quyền của nước ta. Âm mưu của chúng , ta đã rõ. Phải đập tan âm mưu đen tối của kẻ xâm lược. Trong thời gian gần đây Trung Quốc đã có nhiều biểu hiện….. lấy thịt để đè người – họ liên kết với nhau để xâm phạm chủ quyền nước ta như vậy thì chúng ta phải kiên quyết ngăn chặn chứ không thể nói suông được.”
Độc gỉa Quân Tử nói thẳng với nhà nước: “Nói phải đi đôi với làm. Đã ra luật Biển thì phải làm cho thật nghiêm thì mới gọi là luật.”
Hoài Uyên cũng bức súc : “Mình làm theo luật chứ có làm xằng làm bậy gì đâu mà sao chính quyền cứ e dè mãi vậy. Phải làm cho chúng hết mơ tưởng sang đất nhà mình chứ.”
Ý kiến của Thanh Tùng từ Sài Gòn cũng thẳng thắn: “Hãy đập tan âm mưu của bọn cướp trước khi chúng hành động xâm chiếm. Nên bắt hết những tàu cá của chúng khi vào vùng biển của Việt Nam.”
BÀI HỌC SÁNG MẮT
Ngòai hành động xâm lược trên đất liền, qua “Hiệp ước biên giới trên đất liền”, được hai nước Việt-Trung ký ngày 30 tháng 12 năm 1999, Trung Cộng còn không tôn trọng “Hiệp định về phân định lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của hai nước trong vịnh Bắc Bộ” và “Hiệp định hợp tác nghề cá ở Vịnh Bắc Bộ” mà hai bên đã ký ngày 25/12/2000 khi ngang nhiên gửi 23,000 tầu đánh cá xâm nhập Vịnh Bắc bộ, khu vực biển Hòang Sa và Trường Sa của Việt Nam từ ngày 01/08/2012.
Trên mặt trận báo chí, tuyên truyền, phiá Trung Cộng đã cho phổ biến nhiều bài viết và thảo luận trên Truyền hình kêu gọi quân đội tiến chiếm hết các đảo của Việt Nam trên Biển Đông.
Theo tiết lộ của Giáo sư Vũ Cao Đàm ở trong nước thì từ năm 2010, báo mạng “Trung Quốc Binh khí Đại toàn” của Đảng Trung Cộng đã công khai mạt sát, đe dọa nhân dân Việt Nam bằng những lời hung hãn, hạ cấp và “sặc mùi hiếu chiến của bọn thảo khấu trong cái Đảng Cộng sản Đại Hán đang phát xít hóa còn hung hãn khát máu hơn cả Hitler và Mussolini.”
Bài báo của Tầu mang tên: “Giết bọn giặc Việt để làm lễ tế cờ Nam Sa (Sát Việt khấu vi Nam Sa chi chiến tế kỳ – Nam Sa tức Trường Sa của Việt Nam) được Giáo sư Vũ Cao Đàm dịch đăng trên báo mạng Bauxite Việt Nam phổ biến lần thứ nhất ngày 14-5-2010.
Giáo sư Vũ Cao Đàm đã yêu cầu Bauxite Việt Nam phổ biến lần hai vào ngày 02/08/2012 sau khi ông nghe được những lời nói chói tai “biết ơn” các “đồng chí” Trung Cộng của một số viên chức Việt Nam như đã đề cập đến 3 trường hợp của Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân, Trung tướng Mai Quang Phấn, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị QĐND và Phùng Quang Thanh, Đại tướng, Bộ trưởng Quốc phòng.
Vị Giáo sư uyên thâm chữ Hán giải thích tại sao ông đã làm việc này : “Thế rồi tôi đặt câu hỏi: Vì sao cái mà một số kẻ được gọi là “đảng anh em” lại đi rao giảng cái bài “Giết giặc Việt”? Vì sao chúng gọi nhân dân “anh em” là “Giặc”? Nhưng đau hơn, là vì sao mà một số người vẫn tâng bốc chúng là “ân nhân”, lại vuốt ve chúng là “anh em đồng chí”? Họ “khôn khéo”, hay họ “mơ ngủ”. Họ có biết rằng nhân dân sẽ hiểu là họ cố tình nhắc nhở nhân dân ta phải biết ơn, tệ hơn nữa phải cúi đầu thần phục cái bọn sơn lâm thảo khấu đó? Và hậu quả là nhân dân sẽ nghĩ gì về họ, nhất là khi họ không chỉ dừng lại ở những lời biết ơn các “đồng chí” thảo khấu sơn lâm, thẳng tay đàn áp những người biểu tình chống Trung Cộng xâm lược, gọi những người yêu nước là “thế lực thù địch”, thậm chí đánh đập, hành hạ, và thẳng chân đạp vào mặt những người yêu nước… Họ có nghĩ sẽ đến một ngày nào đó tái xuất hiện một pho sách “Đại Nam thực lục chính biên hiện đại” – mà chắc chắn là thế –, ghi chép hay nói đúng hơn là đóng đinh những sự kiện này vào trong sử sách? Họ sẽ giải thích thế nào với các thế hệ con cháu mai sau?” (Bauxite Việt Nam, 02/08/2012)
Giáo sư Vũ Cao Đàm khẳng khái nói với những người này: “Tôi muốn khẳng định rằng: Chúng ta không cần phải biết ơn bọn Trung Cộng. Trung Cộng không xứng đáng để chúng ta biết ơn. Trung Cộng không đủ tư cách để người Việt Nam biết ơn. Chính Trung Cộng phải biết ơn nhân dân Việt Nam, vì đã có hàng triệu người con của cả hai phía Việt Nam ngã xuống để tạo một vành đai chắn cho Trung Cộng và phe XHCN được yên hàn xây dựng cuộc sống hòa bình. Cái phe XHCN được bảo vệ đó ngày nay đã sụp đổ, Trung Cộng đang trên đường phát xít hóa. Cái “trách nhiệm trước thời đại” thuở xưa cũng đã đi vào quá vãng.”
Tiếng nói gang thép này của Giáo sự Vũ Cao Đàm và những phát biểu khẳng khái quyết không đầu hàng giặc của những người dân đi biểu tình chống Tầu xâm lược, và trên báo Thanh Niên đã đủ rót vào tai Lãnh đạo đảng và Nhà nước CSVN chưa, hay đợi cho đến khi giặc vào nhà bắt qùy gối, còng tay đem đi thì họ mới tỉnh ngủ ?
Phạm Trần
Nguồn: Vietthuc
Trong xã hội những người tự do cứu cánh không thể biện minh cho phương tiện. Chúng ta đều biết những mô hình của chủ nghĩa toàn trị-độc đảng chính trị, kiểm soát trường học, báo chí, truyền thanh, nghệ thuật, khoa học, và tôn giáo để củng cố quyền lực chuyên chế; đây là những mô hình lâu đời mà con người đã đấu tranh chống lại trong suốt ba ngàn năm. Những mô hình này là dấu hiệu của phản động, lạc hậu, và thoái hóa…
Lời người dịch: Tuyên Ngôn Nhân Quyền Quốc Tế được Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc thông qua vào ngày 10 tháng Mười Hai 1948 tại Paris, qua Nghị Quyết 217 A(III). Có bốn mươi tám phiếu thuận, không có phiếu chống, và tám phiếu trắng (Bạch Nga, Tiệp Khắc, Ba Lan, Ả Rập Saudi, Ukrain, Liên Xô, Nam Phi, và Nam Tư).
Eleanor Roosevelt (1884-1962) là người đóng vai trò rất quan trọng cho sự ra đời của Tuyên Ngôn. Bà đọc bài diễn văn này tại trường đại học Sorbonne, Pháp vào ngày 28 tháng Chín, 1948 ngay trước khi Tuyên Ngôn ra đời để bàn về nhân quyền và tự do mà mọi người trên hành tinh chúng ta phải có quyền được hưởng.
Cuộc đấu tranh vì nhân quyền và tự do là cuộc đấu tranh liên tục và bền bỉ của từng nước và của từng thế hệ cho tới khi nào ánh sáng của tự do và nhân phẩm sáng ngời trên khuôn mặt của từng người ở mọi nơi.
Bản dịch này được thực hiện như là lời tri ân đối với bà Eleanor Roosevelt và như là nén hương lòng cho linh hồn oan khuất vất vưởng của bà Đặng Thị Kim Liêng, nạn nhân bị áp bức mới nhất vừa bị bức tử quá đau đớn trong nhà tù lớn mang tên Việt Nam.
![]() |
| Eleanor Roosevelt (1884-1962) |
Tối nay tôi đến để nói với quý vị về một trong những vấn đề lớn lao nhất của thời đại chúng ta-đó là vấn đề gìn giữ quyền tự do của con người. Tôi đã chọn để thảo luận vấn đề này tại đây ở nước Pháp, tại trường Sorbonne, vì ở đây từ xa xưa cội rễ của quyền tự do của con người đã đâm mạnh và sâu vào lòng đất này và từ đất này những cội rễ ấy đã hút được dồi dào chất bổ dưỡng. Chính ở đây bản Tuyên ngôn Các Quyền của Con Người được công bố, và những khẩu hiệu cao quý của cuộc Cách mạng Pháp- tự do, bình đẳng, bác ái-đã kích thích trí tưởng tượng của con người. Tôi đã chọn để thảo luận vấn đề này tại Châu Âu vì nơi đây là nơi diễn ra những trận chiến lịch sử lớn nhất giữa tự do và chuyên chế. Tôi đã chọn để thảo luận vấn đề này trong những ngày đầu tiên của Đại Hội đồng vì vấn đề tự do của con người quyết định đến sự giải quyết những khác biệt chính trị tồn đọng và đến tương lai của Liên Hiệp Quốc.
Những người sáng lập Liên Hiệp Quốc ở San Francisco đã nhận thức rất rõ tầm quan trọng của vấn đề này. Quan tâm đến sự gìn giữ và phát huy nhân quyền và các quyền tự do cơ bản là trọng tâm của Liên Hiệp Quốc. Hiến Chương Liên Hiệp Quốc nổi bật nhờ quan tâm sâu sắc đến các quyền và phúc lợi của những cá nhân nam và nữ. Liên Hiệp Quốc đã tuyên bố rõ ràng ý định ủng hộ nhân quyền và bảo vệ phẩm giá nhân cách con người. Ý chính của Hiến Chương được nêu ra ngay trong lời mở đầu khi Hiến Chương tuyên bố: “Chúng tôi nhân dân của Liên Hiệp Quốc quyết tâm… tái khẳng định niềm tin vào nhân quyền cơ bản, vào nhân phẩm và giá trị của con người, vào các quyền bình đẳng giữa nam và nữ và giữa các quốc gia lớn và nhỏ, và… phát huy tiến bộ xã hội và chuẩn mực sống tốt hơn trong nền tự do rộng rãi hơn.” Lời tuyên bố này phản ánh tiên đề căn bản của Hiến Chương là hòa bình và an ninh của nhân loại phụ thuộc vào sự tôn trọng lẫn nhau các quyền và tự do của tất cả mọi người.
Một trong những mục đích của Liên Hiệp Quốc được tuyên bố trong điều 1 là: “đạt được sự hợp tác quốc tế trong việc giải quyết những vấn đề quốc tế về kinh tế, xã hội, văn hóa, hay nhân đạo, và trong việc phát huy và khuyến khích sự tôn trọng nhân quyền và các quyền tự do cơ bản cho tất mọi người không phân biệt chủng tộc, giới tính, ngôn ngữ, hay tôn giáo.”
Tư tưởng này được lập lại nhiều nơi trong Hiến Chương và đáng chú ý trong điều 55 và 56 các Thành viên cam kết hành động chung và riêng để hợp tác với Liên Hiệp Quốc nhằm thúc đẩy “sự tôn trọng và thực thi phổ quát nhân quyền và các quyền tự do cơ bản của tất cả mọi người không phân biệt chủng tộc, giới tính, ngôn ngữ hay tôn giáo.”
Nhiệm vụ đầu tiên và quan trọng nhất được giao cho Ủy Ban Nhân Quyền là soạn Luật Nhân Quyền Quốc Tế. Đại Hội Đồng khai mạc khóa họp thứ ba tại Paris cách đây vài ngày sẽ nhận được thành quả lao động đầu tiên của Ủy Ban trong nhiệm vụ này, đó là bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền Quốc Tế.
Sau nhiều công sức bản Tuyên Ngôn này cuối cùng được hoàn tất trong khóa họp vừa qua của Ủy Ban Nhân Quyền ở New York vào mùa xuân 1948. Hội Đồng Kinh Tế và Xã Hội đã gởi đến Đại Hội Đồng bản Tuyên Ngôn này mà không kèm theo ý kiến, cùng với các văn kiện khác được Ủy Ban Nhân Quyền đệ trình.
Chúng tôi đã quyết định trong Ủy Ban của mình rằng Luật Nhân Quyền nên gồm có hai phần:
1. Tuyên Ngôn có thể được chấp thuận qua hành động của các Nước Thành Viên của Liên Hiệp Quốc trong Đại Hội Đồng. Tuyên Ngôn này sẽ có sức mạnh đạo đức rất lớn, và sẽ nói với các dân tộc trên thế giới “chúng tôi hy vọng đối với tất cả mọi người đây chính là ý nghĩa của nhân quyền trong tương lai.” Chúng tôi ghi lại ở đây những quyền mà chúng tôi coi là căn bản và phải có cho những cá nhân con người trên khắp thế giới. Không có những quyền này, chúng tôi tin sự phát triển nhân cách cá nhân trọn vẹn là điều không tưởng.
2. Phần thứ hai của Luật Nhân Quyền, mà Ủy Ban Nhân Quyền chưa kịp hoàn tất do thiếu thời gian, là công ước dưới dạng hiệp ước sẽ được trao cho các nước trên thế giới. Mỗi nước, sau khi đã sẵn sàng phê chuẩn, sẽ phê chuẩn công ước này và sau đó công ước sẽ trở nên ràng buộc với những nước nào tham gia công ước. Mỗi nước đã phê chuẩn lúc đó sẽ có bổn phận phải thay đổi bất kỳ những điều luật nào của mình không phù hợp với những điểm trong công ước.
Công ước này, tất nhiên, sẽ phải là văn kiện đơn giản hơn. Công ước không thể bày tỏ các nguyện vọng, mà chúng tôi nghĩ có thể cho phép trong Tuyên Ngôn. Công ước chỉ có thể khẳng định những quyền được luật pháp đảm bảo và công ước phải gồm có những phương pháp thi hành, và không có nhà nước nào đã phê chuẩn công ước lại có thể được phép coi thường nó. Chúng tôi vẫn chưa đồng ý về những phương pháp thi hành, Ủy Ban cũng không xem xét đầy đủ và kỹ lưỡng những phương pháp này trong bất kỳ cuộc họp nào của Ủy Ban. Chắc chắn nên có cuộc thảo luận về toàn bộ vấn đề Luật Nhân Quyền thế giới này và Hội Đồng này có thể chấp nhận Tuyên Ngôn nếu họ đạt được sự đồng ý về nó. Việc chấp nhận Tuyên Ngôn, tôi nghĩ, nên khuyến khích mỗi quốc gia thảo luận ý nghĩa của Tuyên Ngôn với nhân dân mình vào những tháng sắp tới để họ sẽ sẵn sàng chấp nhận công ước hơn với sự am hiểu sâu sắc hơn về những vấn đề liên quan khi công ước được đệ trình, chúng tôi hy vọng, vào khoảng một năm nữa và, chúng tôi hy vọng, được chấp nhận.
Tuyên Ngôn từ Ủy Ban Nhân Quyền đã được toàn thể các nước thành viên chấp nhận ngoại trừ bốn phiếu trắng- Liên Xô, Nam Tư, Ukraine, và Byelorussia. Lý do cho điều này là sự khác biệt cơ bản về khái niệm nhân quyền như chúng tồn tại ở những nước này và ở các Nước Thành Viên khác trong Liên Hiệp Quốc.
Khi thảo luận trước Hội Đồng, tôi nghĩ chúng ta nên bày tỏ rất rõ ràng và dễ hiểu những khác biệt này là gì và tối nay tôi muốn dành ít thời gian giải thích rõ ràng những khác biệt này với quý vị. Theo tôi có lý do hợp lý để dành ra thời gian suy nghĩ chín chắn và rõ ràng về chủ đề phải chăng nhân quyền, tức sự chấp nhận và tuân theo những quyền này, là nguồn gốc, tôi tin, của cơ hội hòa bình trong tương lai, và của cơ hội củng cố tổ chức Liên Hiệp Quốc cho tới lúc nó có thể duy trì hòa bình trong tương lai.
Chúng ta phải hiểu rõ ràng tự do là gì. Nhân quyền căn bản vốn đơn giản và dễ hiểu: tự do ngôn luận và tự do báo chí; tự do tôn giáo và thờ phượng; tự do hội họp và quyền kiến nghị; quyền của con người được an toàn trong nhà mình và không bị lục soát và bị bắt giữ vô lý và không bị bắt giam và bị trừng phạt độc đoán.
Chúng ta không được để cho các thế lực phản động lừa dối chúng ta qua việc họ ra sức làm hoen ố những lời cao cả của truyền thống tự do của chúng ta để từ đấy làm rối cuộc đấu tranh. Dân chủ, tự do, nhân quyền cuối cùng đã có ý nghĩa rõ ràng đối với mọi người trên thế giới. Vì thế chúng ta không được cho phép bất kỳ quốc gia nào thay đổi ý nghĩa ấy để làm cho các từ này đồng nghĩa với áp bức và độc tài.
Có những khác biệt căn bản xuất hiện ngay cả trong cách dùng từ giữa nước dân chủ và nước toàn trị. Chẳng hạn “dân chủ” đối với Liên Xô có nghĩa này nhưng lại có nghĩa khác đối với Mỹ và, tôi biết, tại Pháp. Tôi đã phục vụ từ buổi họp đầu tiên của ủy ban trù bị cho Ủy Ban Nhân Quyền, nên tôi nghĩ điểm này rõ ràng rất dễ nhận thấy.
Các đại diện Liên Xô khẳng định họ đã đạt được nhiều điều mà chúng ta, ở các nước họ gọi là “dân chủ tư sản”, không thể đạt được vì chính quyền họ làm chủ những thành tựu này. Còn chính quyền chúng ta dường như bất lực so với họ vì, xét cho cùng, chính quyền chúng ta do nhân dân làm chủ. Họ không diễn đạt như vậy- họ thường nói nhân dân ở Liên Xô làm chủ chính quyền bằng cách cho phép chính quyền có những quyền tuyệt đối nào đấy. Chúng ta, ngược lại, tin rằng những quyền nào đấy có thể không bao giờ được trao cho chính quyền, mà phải được giữ trong tay nhân dân.
Chẳng hạn, Liên Xô nhất định khẳng định báo chí họ tự do vì nhà nước cho báo chí tự do bằng cách cung cấp máy móc, giấy in, và cả tiền lương cho những người làm việc ở báo. Họ tuyên bố rõ ràng không có sự kiểm soát về bài vở ở nhiều tờ báo mà họ trợ cấp theo cách này, chẳng hạn như báo công đoàn. Nhưng chuyện gì xảy ra nếu như tờ báo đăng những ý kiến chỉ trích các chính sách và giáo điều căn bản của chính quyền cộng sản? Tôi chắc chắn họ sẽ tìm ra lý do chính đáng để dẹp tờ báo ấy.
Cũng đúng là có nhiều trường hợp báo chí ở Liên Xô đã chỉ trích các quan chức cùng những việc làm của họ khiến các quan chức đó bị cách chức, nhưng khi chỉ trích như thế, báo chí không chỉ trích đến bất kỳ điều gì được coi là nền tảng đối với giáo điều cộng sản. Họ chỉ được chỉ trích phương pháp làm việc, cho nên ta phải phân biệt giữa những điều có thể được cho phép, chẳng hạn như chỉ trích cá nhân hay cách làm việc, với sự chỉ trích về giáo điều mà sẽ được coi là sinh tử đối với sự chấp nhận chủ nghĩa cộng sản.
Còn những khác biệt gì, chẳng hạn, giữa các công đoàn trong các nhà nước toàn trị và trong các nước dân chủ? Trong nhà nước toàn trị công đoàn là công cụ được chính quyền sử dụng để áp đặt nghĩa vụ, chứ không phải để khẳng định các quyền. Những tài liệu tuyên truyền nào mà chính quyền muốn công nhân có đều được cấp cho các công đoàn để từ đó được phân phát đến các đoàn viên.
Các công đoàn của chúng ta, ngược lại, hoàn toàn là công cụ của chính các công nhân. Những công đoàn này đại diện cho các công nhân trong các mối quan hệ với chính quyền và với chủ và công đoàn tự do phát triển quan điểm riêng của mình mà không cần chính phủ giúp đỡ hay can thiệp. Nhũng khái niệm của các công đoàn chúng ta và của các công đoàn ở các nước toàn trị khác nhau một trời một vực. Rất ít có sự tương đồng.
Ví dụ điển hình nhất về sự khác biệt căn bản này trong cách dùng từ, tôi nghĩ ta có thể nêu ra, là “quyền làm việc”. Liên Xô khẳng định đây là quyền căn bản mà chỉ mình Liên Xô mới có thể bảo đảm được vì chỉ mình Liên Xô mới tạo việc làm toàn thời gian cho tất cả mọi người thông qua chính quyền. Nhưng quyền làm việc ở Liên Xô có nghĩa công nhân phải làm bất kỳ công việc nào do chính quyền giao mà không có cơ hội cho họ tham gia vào quyết định phân bổ này của chính quyền. Xã hội mà mọi người đều có việc làm không nhất thiết là xã hội tự do mà thực chất có thể là xã hội nô lệ; ngược lại, xã hội có sự bất ổn kinh tế lan rộng có thể biến tự do thành quyền sáo rỗng và vô vị cho hàng triệu người. Chúng tôi ở Hoa Kỳ cuối cùng nhận thức tự do nghĩa là tự do chọn công việc của ta, tự do làm việc hay không làm việc tùy ta muốn. Tuy nhiên, chúng tôi, ở Hoa Kỳ, cuối cùng cũng nhận thức rằng người dân có quyền yêu cầu chính quyền của họ không được để cho dân đói vì có khi những cá nhân không thể tìm được công việc họ quen làm và đây là quyết định được tạo ra bởi công luận thành hình từ cuộc khủng hoảng kinh tế mà đã khiến nhiều người thất nghiệp, nhưng chúng tôi ở Hoa Kỳ sẽ không coi chúng tôi đạt được bất kỳ tự do nào nếu chúng tôi bị bắt buộc tuân theo sự phân công công việc độc đoán hay chúng tôi bị sai bảo phải làm việc ở đâu và khi nào. Quyền chọn lựa đối với chúng tôi có vẻ như là một tự do cơ bản, quan trọng.
Tôi rất cảm thông với nhân dân Nga. Họ yêu nước mình và luôn luôn dũng cảm chống lại những kẻ xâm lược để bảo vệ nước mình. Họ đã trải qua thời kỳ cách mạng, cho nên có một dạo họ bị cô lập với thế giới bên ngoài. Do đấy họ không mất đi sự nghi ngờ về các nước khác và khó khăn rất lớn ngày nay là chính quyền họ khuyến khích sự nghi ngờ này và dường như tin rằng chỉ có vũ lực mới tạo cho họ sự tôn trọng.
Chúng tôi, ở các nước dân chủ, tin ở điều giống như sự tôn trọng và hành động quốc tế hỗ tương. Chúng tôi nghĩ người khác không nên đối xử với chúng tôi khác với cách họ muốn được đối xử. Chính sự can thiệp vào các nước khác đặc biệt kích động sự thù địch chống lại Chính phủ Xô Viết. Nếu chính phủ Xô Viết muốn cảm thấy yên ổn để phát triển các lý thuyết kinh tế và chính trị trong lãnh thổ của họ, thì họ phải cho người khác chính sự yên ổn ấy. Chúng tôi tin con người có quyền tự do sai lầm. Chúng tôi không xen vào chuyện của họ thì họ không nên xen vào chuyện của người khác.
Vấn đề căn bản đối mặt với thế giới ngày nay, như tôi đã nói lúc đầu, là sự gìn giữ quyền tự do của con người cho cá nhân và sau đó cho xã hội trong đó cá nhân là một phần. Ngày nay chúng ta đang đánh trận chiến này một lần nữa như ngày xưa nhân dân đánh trận chiến này lần đầu vào thời Cách Mạng Pháp và vào thời Cách Mạng Mỹ. Vấn đề tự do của con người có tính chất quyết định bây giờ như vấn đề tự do của con người có tính chất quyết định vào thời đó. Tôi muốn nói với quý vị khái niệm của tôi về tự do của cá nhân có nghĩa gì ở nước tôi.
Cách đây đã lâu tại Luân Đôn trong một cuộc thảo luận với ông Vyshinsky (1), ông ta bảo tôi trên thế giới không có những thứ như tự do cho cá nhân. Tất cả tự do của cá nhân đều bị các quyền của những người khác chi phối. Điều đó, tất nhiên, tôi thừa nhận. Tôi đã nói:”Chúng tôi tiếp cận vấn đề từ quan điểm khác; chúng tôi ở đây tại Liên Hiệp Quốc đang cố gắng bắt đầu hình thành những lý tưởng mà sẽ rộng rãi hơn về quan điểm, mà sẽ xem xét trước tiên các quyền của con người, mà sẽ xem xét điều làm cho con người tự do hơn: không phải các chính quyền, mà con người.”
Nhà nước toàn trị thường đặt các sắc lệnh do một vài người bên trên ban ra cao hơn ý muốn của nhân dân.
Tất nhiên ta phải luôn luôn xem xét đến các quyền của người khác; nhưng trong nước dân chủ điều này không phải là sự hạn chế. Thật vậy, trong các nước dân chủ của mình chúng ta làm cho các quyền tự do của chúng ta vững chắc vì mỗi người trong chúng ta đều được mong đợi tôn trọng các quyền của những người khác và chúng ta được tự do làm ra luật pháp của chính mình.
Tự do đối với nhân dân chúng ta không chỉ là quyền mà còn là công cụ. Tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do thông tin, tự do hội họp – những quyền tự do này đối với chúng ta không chỉ là những lý tưởng trừu tượng; chúng còn là các công cụ nhờ đấy chúng ta sáng tạo ra nếp sống, trong nếp sống ấy chúng ta có thể tận hưởng tự do.
Đôi khi những quá trình dân chủ diễn ra chậm, và tôi biết một số nhà lãnh đạo chúng ta từng nói chế độ độc tài nhân từ sẽ đạt được cứu cánh mong muốn trong thời gian ngắn hơn nhiều so với thời gian phải mất khi trải qua những quá trình thảo luận dân chủ và qua sự hình thành công luận chậm chạp. Nhưng không có cách nào bảo đảm chế độ độc tài sẽ vẫn còn nhân từ hay quyền lực một khi rơi vào tay của một vài người sẽ được trả lại cho nhân dân mà không cần đến đấu tranh hay cách mạng. Qua kinh nghiệm chúng ta đã học được điều này cho nên chúng ta thà chấp nhận những quá trình dân chủ chậm chạp vì chúng ta biết những con đường tắt thỏa hiệp những nguyên tắc mà không thể nào thỏa hiệp được.
Với chúng ta ý dân cuối cùng thể hiện qua các cuộc bầu cử tự do và trung thực, với những chọn lựa hợp lý về những vấn đề cơ bản và về những người ra ứng cử. Bỏ phiếu kín là điều cốt yếu đối với các cuộc bầu cử tự do nhưng ta phải có sự chọn lựa ở trước mặt mình. Tôi nghe chồng tôi nhiều lần nói người ta không bao giờ phải mất tự do của mình nếu họ giữ được quyền bỏ phiếu kín và nếu họ sử dụng lá phiếu kín đó một cách tốt nhất.
Những quyết định căn bản của xã hội chúng ta đều được thực hiện qua ý muốn được bày tỏ rõ ràng của nhân dân. Vì thế khi chúng ta thấy những quyền tự do này bị đe dọa, thay vì tan rã, quốc gia chúng ta lại trở nên đoàn kết và các nước dân chủ sát cánh bên nhau thành nhóm đoàn kết cho dù chúng ta có những hoàn cảnh khác biệt và có nhiều căng thẳng về chủng tộc.
Ở Hoa Kỳ chúng tôi có nền kinh tế tư bản. Đó là vì công luận ủng hộ hình thái kinh tế đó trong hoàn cảnh chúng tôi sống. Nhưng chúng tôi đã áp đặt những giới hạn nào đấy; chẳng hạn, chúng tôi có những luật chống độc quyền. Những luật này là chứng cứ pháp lý về sự quyết tâm của nhân dân Mỹ nhằm duy trì nền kinh tế tự do cạnh tranh và không cho phép các công ty độc quyền cướp đi tự do ấy của nhân dân.
Các công đoàn của chúng ta phát triển vững mạnh hơn vì nhân dân cuối cùng tin đây là cách thích hợp nhằm bảo đảm các quyền của công nhân và tin quyền tổ chức và mặc cả tập thể duy trì cân bằng giữa nhà sản xuất thực sự và người đầu tư tiền bạc với người đứng đầu trong công nghiệp bảo vệ người lao động tay chân và cũng là người sản xuất ra của cải vật chất thực sự.
Ở Hoa Kỳ chúng tôi đủ khôn lớn để không tuyên bố mình hoàn thiện. Chúng tôi thừa nhận chúng tôi có vấn đề kỳ thị nhưng chúng tôi nghĩ chúng tôi đang đạt được những tiến bộ không ngừng trong việc giải quyết những vấn đề này. Qua các quá trình dân chủ bình thường chúng tôi cuối cùng đang hiểu ra những nhu cầu của mình và hiểu cách chúng tôi có thể đạt đến sự bình đẳng hoàn toàn cho tất cả mọi người chúng tôi. Mọi người được phép thảo luận tự do về chủ đề này. Mới đây Tòa Án Tối Cao của chúng tôi đã ban hành những quyết định nhằm làm rõ một số luật để bảo đảm các quyền của tất cả mọi người.
Liên Xô tuyên bố đã đạt đến thời kỳ khi tất cả các dân tộc trong biên giới nước họ chính thức được coi là bình đẳng và có các quyền bình đẳng và họ quả quyết họ không có sự kỳ thị đối với người thiểu số.
Đây là mục tiêu đáng khen ngợi nhưng sự phát triển tự do cho cá nhân có những khía cạnh khác rất quan trọng và cần thiết trước khi cái việc không có sự kỳ thị có giá trị nhiều, nhưng những khía cạnh này không có ở Liên Xô. Nếu người ta không được phép hưởng các quyền tự do họ muốn mà họ thấy người khác có, thì người ta thường không phàn nàn về sự kỳ thị. Chính những quyền tự do khác này-những quyền tự do ngôn luận căn bản, tự do báo chí, tự do tôn giáo và lương tâm, tự do hội họp, tự do được xử án công bằng và tự do không bị bắt giam và trừng phạt độc đoán, những quyền tự do này chính quyền toàn trị không thể nào an tâm mà ban cho nhân dân họ nhưng những quyền tự do này mới thật sự ban ý nghĩa cho quyền tự do không bị kỳ thị.
Niềm tin của tôi, và tôi chắc chắn cũng là niềm tin của quý vị, là cuộc đấu tranh cho dân chủ và tự do là cuộc đầu tranh rất quan trọng, vì sự gìn giữ tự do và dân chủ là cần thiết cho mục tiêu cao cả của Liên Hiệp Quốc nhằm duy trì hòa bình và an ninh quốc tế.
Trong xã hội những người tự do cứu cánh không thể biện minh cho phương tiện. Chúng ta đều biết những mô hình của chủ nghĩa toàn trị-độc đảng chính trị, kiểm soát trường học, báo chí, truyền thanh, nghệ thuật, khoa học, và tôn giáo để củng cố quyền lực chuyên chế; đây là những mô hình lâu đời mà con người đã đấu tranh chống lại trong suốt ba ngàn năm. Những mô hình này là dấu hiệu của phản động, lạc hậu, và thoái hóa.
Liên Hiệp Quốc phải bám chặc vào di sản tự do đã giành được từ cuộc đấu tranh của các dân tộc mình; Liên Hiệp Quốc phải giúp chúng ta chuyển giao di sản ấy cho các thế hệ tương lai.
Sự hình thành lý tưởng tự do và những ứng dụng của lý tưởng ấy vào thực tiễn cuộc sống hàng ngày ở nhiều vùng bao la trên trái đất là thành quả của công sức của nhiều dân tộc. Đó là thành quả của truyền thống tư duy tích cực và hành động can đảm lâu đời. Không có chủng tộc nào và không có dân tộc nào có thể tuyên bố đã làm hết tất cả mọi việc để đạt được nhân phẩm lớn lao hơn cho con người và tự do lớn lao hơn để phát triển nhân cách. Trong mỗi thế hệ và trong mỗi nước phải có cuộc đấu tranh liên tục không ngừng và phải đạt được những bước tiến mới vì đây rõ ràng là chiến trường nơi đứng im là thoái lui.
Lĩnh vực nhân quyền không phải là một lĩnh vực có thể thỏa hiệp những nguyên tắc cơ bản. Công việc của Ủy Ban Nhân Quyền minh họa điều này. Tuyên Ngôn Nhân Quyền quy định: “Mọi người đều có quyền rời khỏi bất kỳ quốc gia nào, kể cả quốc gia của mình.” Đại diện Xô Viết nói ông ta sẽ tán thành quyền này nếu thêm vào nhóm từ – “phù hợp với thủ tục được ghi thành luật của nước đó.” Rõ ràng là chấp nhận điều này sẽ không chỉ thỏa hiệp mà còn vô hiệu hóa quyền đã được ghi rõ. Trường hợp này minh họa hùng hồn tầm quan trọng của lời tuyên bố chúng ta phải luôn luôn cảnh giác không thỏa hiệp những nhân quyền cơ bản chỉ vì để đạt được sự nhất trí vì như thế đánh mất đi những quyền này.
Theo tôi hiểu, thật không dễ dàng đạt đến sự nhất trí về những khái niệm khác nhau của chúng ta về chính quyền và nhân quyền. Cho nên cuộc đấu tranh nhất định sẽ khó khăn và trong cuộc đấu tranh này chúng ta phải cương quyết nhưng kiên nhẫn. Nếu chúng ta luôn luôn trung thành với những nguyên tắc của mình tôi nghĩ chúng ta có thể duy trì tự do và duy trì tự do một cách ôn hòa mà không dùng đến vũ lực.
Tương lai phải chứng kiến việc mở rộng nhân quyền ra trên toàn thế giới. Những ai đã nhìn thấy dù thoáng qua tự do nhất định không bao giờ bằng lòng cho tới khi nào họ đã đạt được tự do cho chính họ. Nhân quyền, theo ý nghĩa đích thực, là mục tiêu cơ bản của luật pháp và chính quyền trong xã hội công bằng. Nhân quyền tồn tại tới mức độ nhân quyền được tôn trọng bởi mọi người trong mối quan hệ lẫn nhau và bởi chính quyền trong mối quan hệ với công dân.
Thế giới nói chung ý thức những hậu quả bi kịch cho những người sống dưới ách cai trị của các chế độ toàn trị. Nếu chúng ta nghiên cứu việc Hitler lên nắm quyền, chúng ta thấy cách họ rèn ra những xiềng xích để trói buộc cá nhân vào cảnh nô lệ và chúng ta có thể thấy những xiềng xích tương tự đang được rèn ra ở những nước khác. Về chính trị con người phải được tự do để thảo luận và để đạt đến càng nhiều sự thật càng tốt và phải có ít nhất chế độ hai đảng trong nước vì khi chỉ có một đảng chính trị, quá nhiều thứ có thể lệ thuộc vào quyền lợi của độc đảng đó rồi đảng biến thành độc tài chứ không thành công cụ của chính quyền dân chủ.
Tuyên truyền chúng ta chứng kiến trong quá khứ mới đây, giống như tuyên truyền chúng ta nhận thức trong những ngày nay, luôn tìm cách gieo rắc sự nghi ngờ, tìm cách phá hoại, và tiêu diệt tự do và độc lập của các dân tộc. Tuyên truyền như thế đặt cho tất cả các dân tộc vấn đề nên hoài nghi di sản các quyền của họ và vì thế thỏa hiệp những nguyên tắc mà họ đã sống theo, hay cố gắng chấp nhận thử thách, nâng cao cảnh giác hơn nữa, và luôn luôn vững vàng trong cuộc đấu tranh duy trì và mở rộng các quyền tự do của con người.
Những ai tiếp tục bị tước đoạt danh dự họ có quyền được hưởng với tư cách con người nhất định không bao giờ cam phận mãi mãi trong cảnh tước đoạt ấy.
Hiến Chương Liên Hiệp Quốc là ngọn hải đăng soi sáng suốt trên con đường đưa đến thành tựu nhân quyền và những quyền tự do cơ bản trên toàn thế giới. Thử thách trước mắt không chỉ là mức độ nhân quyền và các quyền tự do đã đạt được, mà còn là hướng đi của thế giới hiện nay. Phải chăng có sự tuân theo trung thành các mục tiêu của Hiến Chương nếu một số quốc gia giới hạn nhân quyền và các quyền tự do thay vì phát huy sự tôn trọng và thực thi phổ quát nhân quyền và các quyền tự do cho tất cả mọi người như Hiến Chương kêu gọi?
Nơi thảo luận vấn đề nhân quyền là tại diễn đàn Liên Hiệp Quốc. Liên Hiệp Quốc đã được lập ra làm nơi gặp gỡ chung cho các nước, nơi chúng ta có thể cùng nhau xem xét những vấn đề chung và tận dụng những khác biệt của chúng ta về kinh nghiệm. Chính nhờ gắn bó bền chặc với dân chủ và tự do nên chúng ta tự nhiên luôn luôn sẵn sàng dùng những thủ tục dân chủ cơ bản của thảo luận và thương lượng trung thực. Như thường lệ bây giờ hy vọng của chúng ta là dù trong thế giới ngày nay chúng ta đối diện với những sự khác biệt lớn về phương pháp, nhưng với thiện ý dành cho lẫn nhau chúng ta có thể đạt đến cơ sở đồng ý chung. Chúng ta có mặt ở đây để tham gia vào những cuộc họp của Hội Đồng quốc tế cao cả này mà nhóm họp tại thành phố Paris xinh đẹp của quý vị. Tự do cho cá nhân là phần không thể tách rời của những truyền thống trân quý của nước Pháp. Với tư cách là một Đại Diện đến từ Hoa Kỳ, tôi cầu nguyện Đức Chúa Toàn Năng rằng chúng ta có thể thắng một chiến thắng mới nữa tại đây cho nhân quyền và những quyền tự do của tất cả mọi người.
Eleanor Roosevelt – Trần Quốc Việt dịch
Nguồn: Vietthuc
![]() |
| Ảnh : thanhnienconggiao.blosgpot |
Trong một thông cáo đưa ra tại Nghệ An hôm nay, 11/08/2012, một nhóm thanh niên Công giáo đã lên tiếng kêu gọi chính quyền Việt Nam trả tự do ngay tức khắc và vô điều kiện cho 17 thanh niên Công Giáo và Tin Lành*, hiện đang bị giam giữ.
Theo bản thông cáo nói trên, đã hơn một năm qua kể từ khi các thanh niên này bị bắt giam, chính quyền vẫn chưa cho họ tiếp xúc với luật sư, không được hỗ trợ về tư pháp theo quy định của luật pháp Việt Nam. Chính quyền cũng chưa đưa ra được bất cứ bằng chứng nào để buộc tội các thanh niên nói trên.
Đáng quan tâm hơn là 2 trong số 17 người mẹ của các thanh niên này đã chết trong nỗi buồn phiền, uất ức, như mẹ của blogger Lê Văn Sơn, bà Đỗ Thị Tần, đã qua đời mà không gặp được con và mẹ của blogger Tạ Phong Tần, bà Đặng Thị Kim Liêng, đã tự thiêu để phản đối việc giam giữ và xét xử con gái.
Trong bản thông cáo, nhóm thanh niên Công giáo viết : « Với hành động bắt giam tùy tiện cho đến ngày hôm nay, nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam đã vi phạm các Công ước Quốc tế về nhân quyền, Công Ước Quốc Tế về Quyền Dân Sự và Chính Trị, và nghiêm trọng hơn cả là chà đạp lên chính luật pháp mà họ đã tạo nên. »
Cho nên, thông cáo kêu gọi các cá nhân, tổ chức chính trị, đoàn thể xã hội, các chính phủ tiếp tục lên tiếng và có những hành động nhằm buộc chính quyền Việt Nam thả ngay tức khắc và vô điều kiện cho 17 thanh niên Công Giáo và Tin Lành đang bị giam. Nhóm thanh niên Công giáo cũng kêu gọi chính quyền tôn trọng Bản Tuyên Ngôn Quốc tế về Nhân quyền và Công Ước Quốc Tế về Quyền Dân Sự và Chính Trị mà Việt Nam đã ký kết.
*Danh sách của 17 thanh niên Công giáo và Tin lành
Anh Đặng Xuân Diệu
Anh Hồ Đức Hòa
Anh Nguyễn Văn Oai
Anh Chu Mạnh Sơn
Anh Đậu Văn Dương
Anh Trần Hữu Đức
Anh Lê Văn Sơn, tức Paulus Lê Sơn
Anh Nông Hùng Anh
Anh Nguyễn Văn Duyệt
Anh Nguyễn Xuân Anh
Anh Hồ Văn Oanh
Anh Thái Văn Dung
Anh Trần Minh Nhật
Chị Tạ Phong Tần
Anh Trần Vũ Anh Bình
Anh Nguyễn Đình Cương
Anh Hoàng Phong
Nguồn: RFI





